Menu

KIẾN TRÚC GIÁ RẺ - TIẾT KIỆM 60% CHI PHÍ THIẾT KẾ
Bước 1 : Gửi thông tin yêu cầu thiết kế. Tên và tuổi gia chủ, yêu cầu
Bước 2 : Chúng tôi làm phương án 3 ngày, đồng ý pa ký hợp đồng thiết kế
Bước 3 : Thanh toán, chúng tôi gửi bạn vẽ cho bạn, file, hoặc bản vẽ giấy
LH : Hoàng Thế Quỳnh - ĐT 0988.131.808. This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.
Add files

Bảo dưỡng bê tông và tường xây

bao-dng-b-tng-v-tng-xy

Bảo dưỡng ban đầu:

 (1) Phủ kín bề mặt BT bằng VL đã làm ẩm hoặc

 (2) Phủ bằng VL cách nước (nilon, vải bạt …)

Bảo dưỡng tiếp theo:

 (1) Tiến hành ngay sau khi dừng Bảo dưỡng ban đầu

 (2) Liên tục giữ ẩm bề mặt BT ở mọi vị trí

 

Tường xây cần bảo dưỡng liên tục 3~7 ngày

vGiữ ẩm bằng cách phun nước liên tục lên bề mặt tường, nền (trát/láng vữa).

Tiếp tục đọc
  608 lần truy cập
608 lần truy cập

VỮA XÂY DỰNG

vua-xay-dung vữa xây dựng

Vữa xây tô

  • Vữa xây tường M100 (vữa 1:4): 1 bao ximăng: 8 thùng cát

                                                       1 thùng ximăng: 4 thùng cát

  • Vữa tô tường M100 vữa 1:5): 1 bao ximăng: 10 thùng cát

                                                       1 thùng ximăng: 5 thùng cát

Vữa bê tông

  • Kết cấu chính M250: 1 bao ximăng: 4 thùng cát : 6 thùng đá

                                           1 thùng ximăng: 2 thùng cát: 3 thùng đá

  • Kết cấu phụ M200: 1 bao ximăng: 5 thùng cát : 7 thùng đá

                                           1 thùng ximăng: 2.5 thùng cát: 3.5 thùng đá

Tiếp tục đọc
  3458 lần truy cập
3458 lần truy cập

Mẫu hầm trú ẩn hiện đại 20 người năm 2022

1

Với tình hình chung trên toàn thế giới bây giờ vô cùng hỗn độn, các nguy cơ đối diện với chiến tranh hạt nhân, thiên tai, dịch bệnh ngày càng hiện hữu, vì vậy nhu cầu xây dựng hầm trú ẩn đã tăng 200% trong năm nay, Mới ra mắt một mẫu hầm trú ẩn an toàn được Thai green thiết kế, hầm có sức chứa 20 người đủ cho một gia đình lớn.  Với bộ thiết kế hầm trú  ẩn này bạn có thể đối diện với hầu hết các tình huống khó khăn, như chiến tranh hạt nhân, động đất, dịch bệnh một cách hoàn toàn bình thường.

1 a99cb

Hầm được bố trí 5 lớp bảo vệ tường bê tông được đúc dày 1,5 - 2m, cùng với lớp thép dày 10mm được gia cố chắc chắn, với lớp trì ngăn phóng xạ, Cùng với lớp thép vô cùng chắn chắn dày 10cm bên ngoài cùng lớp gạch chịu lửa và cách nhiệt

2 981a0

Hầm được thiết kế với một lối vào chính và 2 lối thoát hiểm để đảm bảo an toàn cho mọi tình huống sảy ra

3 7842d

Các hệ thống thông khí hiện đại,lọc được các bụi phóng xạ, và các mặt nạ phòng độc sẵn sàng cho các tình huống sảy ra chiến tranh hạt nhân.

4 3ca63

Các phòng ngủ, ăn, shc được bố trí thuận tiện, kết hợp với kho dự trữ lớn 

ac5 ebeac

Tiếp tục đọc
  2141 lần truy cập
2141 lần truy cập

Tìm hiểu trước khi xây nhà

hop-dong-xay-nha-tron-goi
Mình nhận thấy mọi người gặp khó khăn trong lúc muốn xây 1 ngôi nhà mới hoặc sửa chữa nhà cửa, nên với một chút kiến thức và kinh nghiệm trong nghề, mình xin được chia sẻ :
  1. Tư vấn thiết kế ( TVTK)
  • Bạn phải định hình được phong cách mình yêu thích ( Ví dụ như : Hiện đại, cố điển, tân cổ điển, Vintage....) Hoặc nếu không, bạn có thể nói ra sở thích của bản thân, gam màu yêu thích...( hoặc tất cả những gì trong đầu của bạn liên quan đến ngôi nhà với KTS)
  • Mức giá trung bình cho thiết kế : 100-150k/m2 cho TK kiến trúc, 150-200k/m2 cho TK nội thất. Nếu trọn gói sẽ là : 250-350k/m2.
  • Bạn nên lựa chọn 2 công ty TVTK phù hợp với phong cách của bạn, tránh lựa chọn nhiều làm rối và phân vân.
  • Nếu bạn muốn thiết kế cả nội thất, nên lựa chọn 1 đơn vị cho cả phần kiến trúc và nội thất. Vừa đồng bộ cả ngôi nhà, vừa giảm chi phí cho phần bản vẽ.
  • Khi lựa chọn được công ty TVTK, bạn nên chia giai đoạn thanh toán làm 3 lần. ( Lần 1 - Concept Mặt Bằng, Lần 2- Phối cảnh 3D bên trong, bên ngoài, mặt cắt, Lần 3- Nội thất, điện nước, điện nhẹ) để khi đó, mình dễ sửa đổi theo ý mình, và kiểm soát được bản vẽ hơn.
  • Lợi ích khi làm bản vẽ thiết kế thì rất nhiều, nên các bạn đừng tiếc khoản tiền này, đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn mà !
2. Đơn vị thi công ( ĐVTC)
  • Ai cũng sẽ muốn chọn 1 nhà thầu có tâm, uy tín và chất lượng nhưng bạn không biết lựa chọn kiểu gì đúng không ạ? Nên cách tốt nhất, bạn hãy cứ lựa chọn 2 DVTC mà bạn " cảm thấy" tin tưởng, và giao cho bên TVTK lựa chọn, vì TVTK sẽ có kinh nghiệm hơn ở trong nghề.
  • Về phần giá cả, nếu DVTC nhận cả vật tư, thì bắt buộc phải có 1 bảng bốc KL chi tiết ( như ảnh 1) chứ không phải tầng 1 bao nhiêu m2, tầng 2 bao nhiêu m2... xong nhân với đơn giá ra số tiền.
  • Bình thường 1 ngôi nhà, cần phải bốc chi tiết ra từng hạng mục nhỏ, rồi ráp với đơn giá, -> ra 1 số tổng ( A). Rồi mới lấy A chia cho số m2 thì mới ra giá tiền 1m2. Các bạn hay nghe 3,5tr 3,6tr/m2 phần thô, hay 5,5-6tr/m2 hoàn thiện là những con số bốc nhanh theo những người có kinh nghiệm.
  • Khi bốc chi tiết ra, bạn sẽ nắm được quy trình làm của từng hạng mục ( Ảnh 2) , bạn dễ kiểm soát được khối lượng, giá tiền của từng hạng mục đó => "Chia để trị"
  • Về nguyên tắc khi mình quy ước ra m2, các bạn cần phải nhớ là : 1m2 sẽ bao gồm : 1. Bê tông cốt thép, 2. Tường xây, 3. Tô trát tường, 4. Cán nền , 5. Ốp lát ( tường WC sẽ là 2,4m). Khi và chỉ khi có đủ 5 cái trên, thì mới tính là 1m2 ( trừ khi nền PN bạn không muốn dùng gạch mà dùng sàn gỗ, thì thiếu yếu tố 5 nhưng vấn tính đủ cho bên DVTC) Còn thiếu hạng mục nào, bạn có quyền yêu cầu DVTC bốc chi tiết khối lượng phần đó ra.
  • Trong hợp đồng khi kí, cần có 1 bảng cam kết vật tư ( như ảnh 3) Các bạn có quyền chỉ định vật tư theo ý mình và khi DVTC nhập vật tư về, bạn có thể trực tiếp check hoặc yêu cầu DVTC chụp lưu lại bằng hình ảnh.
  • Bạn nên tạo 1 nhóm Zalo, yêu cầu DVTC cập nhập hình ảnh, báo cáo tiến độ công việc, dự trù công việc để các bạn tiện nắm khi các bạn bận và chuẩn bị nguồn tiền. ( Ảnh 4)
  • Các bạn nên giao cả vật tư phần thô cho bên DVTC.
  • Nếu các bạn dư giả về kinh tế và không có bạn bè, hay người thân làm trong XD, thì nên thuê thêm 1 giám sát thi công ( 7-10tr/tháng) hoặc để tối ưu chi phí, bạn có thể "nhờ" bên DVTK nhà cho bạn.
3. Vật liệu hoàn thiện.
  • Hạng mục sơn :
    - Đối với kinh nghiệm của bản thân mình, nên lựa chọn Dulux hoặc vừa tầm tiền sẽ là Jotun hoặc xuống 1 chút là Maxilite
    - Sơn bên ngoài sẽ có 2 sự lựa chọn : 1. Sơn chống thấm tường ngoài ( 3 lớp) 2. Sơn ngoại thất ( 2 lớp bả, xả, 1 lớp kiềm, 2 lớp hoàn thiện).
    - Sơn chống thấm sẽ rẻ hơn nhưng bù lại ít màu lựa chọn hơn, ngược lại Sơn ngoại thất tốn kém hơn nhưng bù lại nhiều màu để lựa chọn và tường khi được bả sẽ đẹp hơn.
    - Sơn trong nhà sẽ chia làm 2 loại, sơn mờ và sơn dễ lau chùi ( bóng) các bạn nên sử dụng dòng sơn mờ, sẽ tối ưu chi phí hơn và không lộ khuyết điểm của tường, dễ sửa chữa hơn ( sơn bóng khi sửa 1 vùng nhỏ, cần sơn cả bức tường, ngược lại sơn mờ sẽ chỉ sơn 1 vùng rộng hơn vùng sửa là được)
    - Nên xả sơn khi lắp xong bóng điện, vì khi đó bật full đèn ánh sáng vàng, sẽ dễ thấy được khuyết điểm lộ ra của tường để mình nói thợ xoa kĩ hơn phần đó.
  • Hạng mục trần thạch cao :
    - Dòng trần thạch cao của Vĩnh Tường được ưa chuộng nhất, nhưng phân ra làm rất nhiều loại ( Tika, Basi, alpha..)
    - Nên lựa chọn hệ Tika để tối ưu chi phí, nếu muốn đẹp hơn thì dùng thanh shadowline kèm theo.
    - Tấm WC nên dùng tấm chống ẩm ( lõi xanh) và có nắp thăm trần để tiện sửa chữa.
  • Hạng mục điện ( MEP) :
    - Không nên thả dây trực tiếp trên trần.
    - Nên đi bằng ống cứng thương hiệu SP, dây Cadivi hoặc Trần Phú ( ĐN mình chuộng Cadivi hơn )
    - Chụp ảnh phần thô và sau này yêu cầu DVTC vẽ bản hồ sơ hoàn công để tiện sửa chữa, theo dõi sau này.
    - Nên bảo thợ phối hợp đọc với bản vẽ nội thất để tránh sửa chữa sau khi lắp nội thất.
    - Nên có hệ CB chống giật, và cọc tiếp địa.
    - Đối với các nguyên tắc khi đi dây, mình sẽ chia sẻ ở bài sau, các lưu ý khi thi công công trình.
  • Hạng mục chống thấm : ( không tính hồ bơi)
    - Sẽ chia ra lảm 2 loại chính :
    1.Vật liệu chống thấm 2 thành phần ( gốc XM, gốc epoxy, gốc Poly) và 2. Màng khò ( màng
    - Giá thành ( cả nhân công) : Vật liệu 1 gốc xi măng sẽ rơi TB : 100-150k/m2 ( có loại cao hơn và rẻ hơn nhưng tầm tiền này là dc rồi ) Vật liệu 2 sẽ rơi vào 300k-360k/m2 ( Ảnh 5 là VL 2 thành phần, Ảnh 6 là màng khò dày 4mm )
    - Ưu nhược điểm : Loại 1 ( rẻ hơn nhưng dễ rách lớp màng) và loại 2 sẽ ngược lại.
    - Sử dụng loại 2 thành phần gốc xi măng là đủ rồi, không cần phải màng khò ( Sika, Top seal 107, Smart Flex..) đó là 3 loại mình hay xài.
    - Yêu cầu DVTC đưa ra quy trình, định mức trên 1 m2 của nhà sản xuất. Các bạn lưu ý, không phải cứ nhiều là tốt, nhiều quá gây nứt lớp chống thấm, chỉ nên đúng định mức/1m2 là được rồi.
    - Ở trên tầng mái, nên kèm theo lưới thuỷ tinh để chống nứt, ở các đoạn góc cạnh của mái và WC thì phải có lưới poly ( ảnh 7 và ảnh ?
    - Hay bị thấm nhất khi thi công là ở các đoạn cổ ống, nên làm kỹ( đổ Sika Grout -> dán lưới Poly -> quét 3 lớp HT)
    - 1 lớp lót -> phủ lưới -> 2 lớp hoàn thiện ( WC thì k cần lưới thuỷ tinh) . Làm xong xuôi test nước tối thiểu 48h hoặc tốt nhất là 72 tiếng
  • Thiết bị vệ sinh, gạch :
    - Phần gạch này các bạn nên bảo bên thiết kế lựa chọn cho mình, add vào trong phối cảnh, để các bạn được ngắm nhìn trước cho dễ lựa chọn. ( tầm tiền như nào hãy nói với bên thiết kế)
    - Phần thiết bị VS thì cá nhân mình lựa chọn Inax là vừa tầm tiền và đẹp rồi ạ.
  • Thiết bị điện :
    - Vừa tầm tiền nhất và đẹp thì nên sử dụng mặt nạ, công tắc, CB của Panasonic ( trong dòng này phân ra làm rất nhiều loại, các bạn có thể xin calalog của hãng về để tham khảo thêm)
    - Cao cấp hơn có thể dùng Schneider. Cũng phân ra rất nhiều loại, tuỳ vào túi tiền của mình để lựa chọn.
  • Hạng mục cửa nhôm :
    - Phân ra làm nhôm nhập và nhôm trong nước
    - Tuỳ theo độ dày, độ rộng của hệ nhôm mà giá thành sẽ khác nhau
    - Đối với hệ cửa đi, nên dùng loại nhập dày 1.8mm trở lên, cửa sổ loại nhập 1.4mm trở lên là được rồi để tối ưu chi phí. Kính cường lực 10mm.
    - Giá thành của cửa đi : 1,8tr-2,4tr/m2 ,cửa sổ : 1,6tr-1,8tr/m2 tuỳ độ dày
    - Phụ kiện KinLong hoặc Huy Hoàng.
Để mà nói rõ hơn hay chi tiết hơn thì rất nhiều, nhưng mình sẽ cố gắng chia sẻ hết theo kinh nghiệm cá nhân của mình. Bài sau mình sẽ viết các lưu ý trong quá trình thi công nhà theo từng hạng mục và cả các phần lưu ý khi làm nội thất.
Cảm ơn các bạn đã đọc bài !
Tiếp tục đọc
  874 lần truy cập
874 lần truy cập

Cửa sổ rộng bao nhiêu?

cua-so-mo-hat-ra-ngoai

Khi quyết định xây nhà, việc thiết kế đúng phong thủy sẽ khiến gia chủ thêm vượng, các kích thước số đo của từng ô cửa luôn được gia chủ quan tâm. Đặc biệt phải chú ý đến việc lựa chọn kích thước các loại cửa chính, cửa cổng, cửa nhà vệ sinh... Có những kích thước giúp cho gia chủ ăn nên làm ra, tài lộc đầy nhà nhưng cũng có những kích thước làm cho gia chủ gặp xui xẻo. Hôm nay chúng ta cùng đi tìm hiểu về kích thước cửa sổ rộng bao nhiêu? Chiều cao cửa sổ nên để như thế nào?
 

Đặc biệt phải chú ý đến việc lựa chọn kích thước các loại cửa chính, cửa cổng, cửa nhà vệ sinh. Vì lẽ đó mà các nhà nghiên cứu phong thủy luôn luôn tìm tòi, tính toán sao cho những kích thước cửa sổ là phù hợp nhất. Thông thường cửa sổ phải bằng 0,5 chiều cao căn phòng đồng thời cách nền nhà 0,8 mét. Khi thiết kế đỉnh trên cửa sổ phải chú ý đến chiều cao nhất của thành viên trong gia đình làm sao chiều cao đỉnh đó phải cao hơn chiều cao của người cao nhất trong nhà. Nếu trong nhà có người cao 1,7 mét thì chiều cao của cửa sổ từ nền nhà lên đến cạnh trên cửa sổ phải là 2,0 mét.

Đối với phòng diện tích nhỏ hơn 15m2 chỉ có thể mở cửa sổ 2 cánh. Ngược lại, phòng có diện tích lớn 15m2 có thể mở cửa sổ 3 cánh hay 4 cánh. Số lượng cánh cửa có các tên gọi khác nhau: 

+ 2 cánh gọi là Nghênh Phúc Trường Thọ

+ 3 cánh gọi là Tam Dương Khai Thái

+ 4 cánh gọi là Tứ Quý 

Lưu ý, cửa 1 cánh thông thường được đặt ở tầng hầm, hoặc tường hướng Bắc hay các khu vực u tối,  cửa sổ này được gọi là Cửa Sổ Bối Âm, nghèo hèn. 

Kích thước cửa sổ phong thủy đẹp tỉ lệ chiều cao và chiều rộng kích thước cửa sổ theo Thước Lỗ Ban

Kích thước theo thước lỗ ban là kích thước thông thủy hay (phần không gian sử dụng thực tế sau khi hoàn thiện). Kích thước thông thủy không tính phần khuôn cửa

Kích thước tiêu chuẩn cửa sổ  xác định theo tỉ lệ tương ứng với diện tích riêng mỗi căn phòng. 

+ Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc với vài quốc gia Đông Bắc Á  tỷ lệ là 1:6

+ Ở các quốc gia đông nam Á  tỉ lệ 1:7, Nam Á 1:8. 

Vì sao có sự khác biệt kích thước cửa sổ như vậy?  Bởi vì, ở những vùng trong năm có nhiều nắng và gió, diện tích cửa sổ cần nhỏ so với diện tích phòng. Nó liên quan đến số giờ nắng trong ngày, số ngày có ánh mặt trời trong năm tại mỗi vùng thuộc khí hậu khác nhau

Trên đây là kích thước chỉ được áp dụng khi làm cửa nhà. Với những kích thước như trên nếu áp dụng lấy để xây nhà hoặc thiết kế đồ nội ngoại thất thì sẽ rơi vào những chữ xấu hơn. Vì vậy khi thiết kế cửa sổ bạn hết sức lưu ý là bạn đang dùng thước lỗ ban 52,2cm hay 42,9cm  hoặc 38,8cm và lấy kích thước để làm gì.

cua so mo hat ra ngoai

cua so mo truot kich thuoc thong dung

 

Tiếp tục đọc
  1577 lần truy cập
1577 lần truy cập

Thiết kế thi công hầm trú ẩn ( Bunker Design ) ở Việt Nam

https___blogs-images.forbes.com_jimdobson_files_2018_09_9-19-2018-9-24-13-AM

Giới nhà giàu đã và đang bắt đầu dịch chuyển các công trình vĩ đại của cuộc đời từ những suy nghĩ rất cận kề không xa nữa trong tương lai, đó  là lỗi lo về chiến tranh, đặc biệt là hạt nhân, đại dịch và thiên tai đang ở mức cao nhất mọi thời đại và gia tăng từng ngày một. Theo các cuộc thăm dò được ủy quyền bởi YouGov, 22-23% người dân ở Anh và Mỹ cảm thấy rằng thế giới sẽ kết thúc trong cuộc đời của họ, hoặc ít nhất họ sẽ thấy sự kiện của ngày tận thế. Trong số đó, 60% người dân, đặc biệt là ở Mỹ, cảm thấy rằng nó sẽ trải qua một cuộc chiến tranh hạt nhân. Chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ trong số những người này hy vọng sống sót sau một sự kiện như vậy, và thậm chí ít hơn có phương tiện cho nó. 40% giới nhà giàu tại  Mỹ, Anh, Đức đã chuẩn bị cho riêng mình một căn hầm  trú ẩn riêng cho gia đình mình mình.

Làm thế nào để có một căn hầm trú ẩn an toàn được thiết kế tiện nghi chống chịu được mọi t ình huống như chiến tranh hạt nhân, động đất, sóng thần, dịch bệnh .v.v.v . Thai Green sẽ  là một lựa chọn tốt cho bạn, với đội ngũ chuyên nghiệp, đã được thiết kế và thi công nhiều căn hầm  trú ẩn lớn hiện đại, tiện nghi. Thai Green tự  hào là đơn vị đi đâu trong  linh vực hầm trú ẩn ở vn, Đến với Thai Green bạn sẽ nhận được những thiết kế  hầm hiện đại nhất  mà chi phí xây dựng với mức giá rất hợp lý

Chúng tôi xin giới thiệu một số mẫu hầm trú ẩn

massive underground bunker in georgia goes on sale for 17.5 million 01

9065159c 0b74 4e07 b29f 53fcc26fff3a 750x422

Mẫu hầm trú ẩn AR1 dành cho hộ gia đình nhỏ  thiết kế  bê tông cốt thép, chống chịu được chiến tranh hạt . Các bức tường, sàn và mái nhà được thiết kế để ngăn chặn sự đi qua của các hạt phóng xạ vào các khu vực bên ngoài liền kề. Thai Green làm việc với nhà tư vấn bức xạ để cung cấp một giải pháp cấu trúc phù hợp nhất. Hầm được thiết kế chịu đừng một gia đình 5-6 người sống thoải mái trong 1 năm không cần ra ngoài, với 2 đường thoát hiểm an toàn, kho chứa hàng rộng đảm thức phẩm được bảo quản tốt, năng lượng hoạt đồng bằng năng nược mặt trời và máy phát điện động cơ xăng. Có trang bị các bảo hộ mặt lạ phòng độc khi bắt buộc phải ra ngoài.

c8829b9d6244ed32207ab62cd6e40fb8

Mâu hầm trú ẩn AR2 là mẫu hầm trú ẩn cho 1-3 hộ gia đình, Thời gian lưu chú 1-2 năm mà không phải ra ngoài, được thiết kế theo mô hình nhiều tầng âm xuống lòng đất, kết cấu chủ yếu là bê tông sắt thép. Các bức tường, sàn và mái nhà được thiết kế để ngăn chặn sự đi qua của các hạt phóng xạ vào các khu vực bên ngoài liền kề. Hầm được thiết kế hiện đại được sử dụng những công nghệ tiên tiến tạo oxy sạch, hệ thống điều khiển cảnh báo tự động, điều khiển cửa hầm thử công và tự động. Hầm đầy đủ các phòng chức năng, bếp, phòng ngủ, wc, phòng y tế, phòng trông rau, tăng gia sản xuất tự cung tự cấp trong tình huống xấu nhất. Hầm với 3 lối thoát hiểm hiện đại được bố trí các phương tiện di chuyển xa và các bảo hộ phòng độc hiện đại, năng lượng hoạt động của hầm là năng lượng mặt trời có chính thức và có dự phòng được bảo vệ bằng nắp sắt chịu đựng được cường độ va trạm mạnh. có dự phòng 2 máy phát điện chạy xăng. Bể nước lớn, lấy nước từ giếng nước ngầm và dẫn nước từ lới khác. Có kính quan sát bên ngoài và camera theo giõi bên ngoài ban ngày và trong đêm. Chống chịu được ngập nước nhiều ngày

BBZ3KUJ

 Nắp thoát hiểm bằng sắt và bê tông chịu lực 

1024px Archibald Neil Sinclair house bomb shelter

Đường thoát hiểm cách hầm 300m 

62fcd962 aba3 4f21 9eb8 ebb5ebc134cb Rising S Co bunker 1

Mặt sàn thép gia cường bê tông chịu lực dày 1.5m 

33fc6d703299817b09c012ca594b67d8

Phòng trực cảnh báo sớm.

Dưới đây là một số mẫu hầm cá nhân 1-3 người là mẫu hầm phòng thủ được trang bị vũ trang 

shelter clipart underground bunker 3

09773e2c02733242a2affd0a11083604

Ai có nhu cầu thiết kế thi công hầm trú ẩn liên hệ : MR: Quỳnh ĐT : 0988131808. Email : This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Tiếp tục đọc
  14564 lần truy cập
14564 lần truy cập

Cần làm gì trong khủng hoảng tài chính năm 2020

Khung-hoang-kinh-te-2020

Tài chính sau corona đi về đâu ?

Cái từ phá sản sẽ được sử dụng nhiều trong năm 2020, nhất là trong thời kỳ kinh tế lỏng nẻo của VN như hiện nay, các dự định của vn  trong thời tăng tốc nguồn lực tập trung vào đâu tư hết không có nguồn lực dự phòng đó là điều cực kỳ nguy hiểm không tránh khỏi sự sụp đổ khi tất cả nền kinh tế đóng băng như hiện nay.

Phải làm gì để bảo toàn tài sản ?

Thời kỳ hậu corona là thời kỳ thất nhiệp tăng cao, nhà nước bơm tiền cứu kinh tế, thời kỳ sức mua rất yếu, ngoài những thực phẩm thiết yếu ra thì các sản phẩm cao cấp sẽ đi xuống rất sâu, Thời kỳ của nhưng ngành tăng trưởng vượt bâc, như oto, khoáng sản, bất động sản, xây dựng, sắt thép sẽ rất khó khăn vì sức mua hàng loại này sẽ giảm rất nhiều.

Vai trò của nhà nước lúc này là phải bơm tiền và bơm tiền để doanh nghiệp được sống để mai này còn thu lại, đây là cơ hội ngàn vàng doanh nghiệp cần phải bắt lấy. Nhưng đặc biệt chú ý đừng lấy số tiền vay được để tiếp tục nuôi các ngành nghề đang giảm sâu như nêu ở trên, vì nguồn lực vay không thể nuôi được các sản phẩm đang đi xuống nhiều năm liền, lên duy trì doanh nghiệp mình ở mức độ thở ôxy chờ đợi đề kháng toàn xã hội đi lên thì lại tiếp tục đầu tư, càng lôi càng thiệt hại và đó sẽ là chi phí chìm sau cùng rồi cũng phải out.  Lên bán trước công ty, doanh nghiệp ngày khi bắt đầu đại suy thoái xảy ra, hợp tác với người có tài chính mạnh, phải có mục tiêu dài hơi hơn những gì chính phủ làm trước mắt. Thu hồi nguồn tiền đã bỏ ra càng nhanh càng tốt, kết thúc hợp đồng đang giang rở nhanh, chú ý đến các cơ hội nhỏ hơn ít tiền hơn.  Thời kỳ lọc cát để lấy vàng cám chứ không nhiều cơ hội chúng ục như trước, Tập trung các sản phẩm giá rẻ phù hợp túi tiền số đông người tiêu dùng, các ngành như ngành bất động sản,  giai đoạn đầu phải bán và bán gấp hết những dự án đã hoàn thành bằng cách thức cắt lỗ, các dự án hoàn thành dưới  50 % dừng đầu tư, dự án hoàn thành 80% phải hoàn thiện càng nhanh càng tốt,  các dự án chung cư  không thể bán được lên mời người dân có trí thức tốt vào ở miễn phí trong 2 - 3 năm. phải  sống được khoảng 3-5 năm thì sẽ lại bán có lãi. Doanh nghiệp khai khoáng trừ vàng và đá quý thì lên hoạt động cầm trừng hòa vốn là ổn đợi chờ cơ hội. Doanh nghiệp oto giờ cũng là lúc nhìn lại và chấp nhận sự cạnh tranh rất cao, loại xe rẻ, xe tầm trung sẽ bán tốt, các xe dòng cao cấp thì chậm lại, thời kỳ kinh doanh buôn bán xe cũ phát triển.  Doanh nghiệp sắt thép, xi măng sẽ khó khăn, lên duy trì ở mức độ đủ để hoạt động, hàng tồn kho phải các chính sách bán hàng ưu đãi, kết hợp với nhà nước để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội vừa để kích cầu vừa để bán sản phẩm. Các doanh nghiệp xuất khẩu như dày da, may mặc, sẽ rất khó khăn, giải pháp là đẩy mạnh tìm nhiều thì trường khác nhau đa dạng

Đầu tư vào gì để tăng lợi nhuận. ?

Thời kỳ thu mua và đâu tư vào các ngành, các công ty sản xuất  thiết yếu của  cuộc sống  như nông sản, ngô. khoai sắn (  Sau vụ này thế giới sẽ sử TQ có thể là sẽ tây tray hàng TQ trên một quy mô toàn cầu ) đây là lợi thế cho Việt Nam ta dùng nguồn lực được kích cầu tập trung vào các mảng xuất khẩu thiết yếu mà TQ đang nắm dữ.   Việt Nam mình lợi thế về gạo, đây là lúc đầu tư nó theo mô hình công nghiệp hiện đại hóa toàn diện. Đầu tư vàng trong giai đoạn đầu sụp đổ là tốt xong phải chuyển đổi nó thật nhanh, Thu mua lại công ty tiềm năng như xăng dầu, xây dựng, bất động sản. Thu mua các công nghệ bí mật ( Đặc biệt từ TQ ). Đầu tư các công ty chuyển đội số cho doanh nghiệp, công ty cung cấp dịch vụ lưu trữ, công ty hạ tầng intenet. học trực tuyến , thiết kế phần mềm,  Đầu tư vào các công ty chăm sóc sức khỏe online, các công ty chế biến thực phẩm chức năng đơn thuần, Đầu tư vào các công ty vận chuyển giao hàng nội địa, Đầu tư vào các công ty tuyển dụng online và offline. Đầu tư vào dịch vụ thể thao ít chi phí, đi bộ, đạp xe, bóng bàn. thiền. Đầu tư mua bán những ngôi nhà nhỏ rẻ ( mọi người sẽ đổi từ nhà to sang nhà nhỏ ). Tiền ảo cũng làm một đầu tư tốt

                                                                          Tác giả : Hoàng Thế Quỳnh

Tiếp tục đọc
  1095 lần truy cập
1095 lần truy cập

quy trình đổ bê tông cột, dầm, sàn

34069-857ed2c046766fc36cbbb20c5fede96a

Một trong số những vướng mắc ấy liên quan đến quy trình đổ bê tông cột, dầm, sàn. Hiểu được mong muốn của nhiều chủ đầu tư, bài viết này được thực hiện giúp cho bạn có thể thực hiện đúng, đủ và quản lý được toàn bộ quy trình đổ bê tông cột, dầm, sàn trong khi thực hiện xây dựng ngôi nhà ở cho gia đình mình
Hướng dẫn quy trình đổ bê tông cột, dầm, sàn: Chủ đầu tư nên thực hiện 4 lưu ý dưới đây:

Kiểm tra cốp pha, cốt thép trước khi đổ bê tông


Cốp pha phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật: Đo đạc xác định vị trí đặt cốt pha, cốp pha phải đảm bảo chắc chẵn, kín thít chống mất nước khi đổ, đầm bê tông.

Cốp pha cột: chân cốp pha phải đảm bảo đúng vị trí, chắc chẵn đảm bảo khi đổ bê tông không bị xô lệnh; cốp pha cột cần phải chống, neo, rọi đảm bảo cho cột không bị nghiêng, phình

Trong quá trình đổ bê tông: Cốt thép cần phải đạt được các tiêu chí: chủng loại thép, vị trí, số lượng, chiều dài, nối, buộc thép phải theo thiết kế; làm sạch, đánh rỉ thép.

Quá trình chuẩn bị trước khi đổ bê tông.


Để có được thiết kế biệt thự đẹp, chủ đầu tư cần có quá trình chuẩn bị chu đáo, kể cả về thiết kế, đến thi công. Quá trình chuẩn bị trước khi đổ bê tông, chủ đầu tư cần chuẩn bị thực hiện các bước như sau:

  • Chuẩn bị, tính toán nhân lực, máy móc thiết bị đảm bảo cho quy trình đổ bê tông.
  • Tính toán thời gian đổ bê tông.
  • Tính toán mặt bằng thi công đổ bê tông.
  • Đảm bảo về mặt an toàn khi thi công trong quá trình tiến hành đổ bê tông cột, dầm, sàn.
  • Dọn dẹp, dội nước làm sạch cốp pha, cốt thép.

Hướng dẫn chi tiết quy trình đổ bê tông cột, dầm, sàn

 

Quy trình đổ bê tông cột

 

  • Đưa bê tông vào khối đổ qua cửa đổ thông qua máng đổ.
  • Chiều cao rơi tự do của bê tông không quá 2m.
  • Đầm được đưa vào trong để đầm theo phương thẳng đứng, dùng đầm dùi để đầm, chiều sâu mỗi lớp bê tông khi đầm dùi khoảng 30-50cm, thời gian đầm khoảng 20-40s. Chú ý trong quá trình đầm tránh làm sai lệch cốt thép.
  • Lưu ý với kết cấu có cửa, khi đổ đến cửa đổ thì bịt cửa lại và tiếp tục đổ phần trên.
  • Khi đổ bê tông cột lớp dưới cột thường bị rỗ do các cốt liệu to thường ứ đọng ở đáy, để khắc phục hiện tượng này trước khi đổ bê tông ta đổ 1 lớp vữa xi măng dày khoảng 10 – 20 cm.

Quy trình đổ bê tông dầm

 

  • Trong nhà ở dân dụng, chiều cao dầm ít khi vượt quá 50cm, người ta thường tiến hành đổ bê tông dầm cùng với bản sàn . Những trường hợp đặc biệt chiều cao dầm lớn hơn 80 cm, mới đổ bê tông dầm riêng không chung với bản sàn . Với loại dầm này, người ta không đổ bê tông thành từng lớp theo suốt chiều dài dầm mà sẽ đổ theo kiểu bậc thang từng đoạn khoảng 1m, đạt tới cao độ dầm rồi mới đổ đoạn kế tiếp.
  • Khi đổ bê tông toàn khối dầm và bản sàn liên kết với cột, cần chú ý sau khi đổ cột đến độ cao cách mặt đáy dầm tự 3-5cm, ta phải ngừng lại 1-2 giờ để bê tông có đủ thời gian co ngót rồi mới đổ tiếp dầm và bản sàn. Thông thường khi thực hiện thủ công với một số ít thợ , công việc này được tách ra làm hai giai đoạn, giai đoạn một đổ cột xong, mới tiến hành ghép cốp pha dầm và bản sàn để thực hiện tiếp giai đoạn hai.

Quy trình đổ bê tông sàn

 

  • Sàn cũng có cấu tạo gần giống như dầm, nhưng sàn có mặt cắt ngang rộng hơn và chiều dày lại nhỏ hơn, do đó không cần cốt thép khung và đai . Chiều dày sàn nhà ở thông thường từ 8 đến 10cm . Bê tông sàn thường không có yêu cầu chống thấm, chống nóng cao như mái , nhưng cũng phải tuân thủ việc bảo dưỡng tránh không bị nứt .Phải đổ bê tông sàn theo hướng giật lùi và thành một lớp , tránh hiện tượng phân tần có thể xảy ra.
  • Mặt sàn chia thành từng dải để đổ bê tông, mỗi dải rộng từ 1 đến 2 n. Đổ xong một dải mới đổ dải kế tiếp .Khi đổ đến cách dầm chính khoảng 1m , bắt đầu đổ dầm chính. Đổ bê tông vào dầm đến cách mặt trên cốp pha sàn khoảng từ 5 đến 10cm lại tiếp tục đổ bê tông sàn > khi đổ bê tông sàn cần khống chế độ cao bằng các cữ, nếu không sẽ bị lãng phí bê tông ở khâu này . Dùng bàn xoa gỗ đập và xoa cho phẳng mặt sau khi đã đầm dùi kỹ.
  • Khối bê tông cần đổ bao giờ cũng ở vị trí thấp hơn vị trí của các phương tiện vận chuyển bê tông tới, tức là đường vận chuyển bê tông phải cao hơn kết cấu công trình. Đổ bê tông sàn bắt đầu từ chỗ xa nhất với vị trí tiếp nhận và lùi dần về vị trí gần. Tránh không cho nước đọng ở hai đầu và các góc cốp pha, dọc theo mặt vách hộc cốp pha .Tất cả các thao tác như đầm, gạt mặt, xoa phải tiến hành ngay lập tức, theo hình thức “ cuốn chiếu “ từng khu vực đã đổ được 15 phút.

Một số lưu ý thực tế khi đổ bê tông cột, dầm, sàn

 

  • An toàn khi thi công: Khi tiến hành đổ bê tông, cần chú ý mạnh.
  • Chú ý khi nào nên trộn lại bê tông: Vữa bê tông đã trộn khoảng 1h 30 phút mà chưa đổ vào khuôn thì cần được trộn lại. Tuy nhiên, không nên thêm nước vào. Vì vữa bê tông ngót nước thao tác kém linh hoạt hơn tuy nhiên chất lượng lại không bị giảm. Nếu trộn thêm nước, lượng nước thừa sẽ làm vữa bê tông bị nhão, giảm cường độ chịu lực

 

Tiếp tục đọc
  1467 lần truy cập
1467 lần truy cập

Kiểm tra thi công thang máy

34273-5e358739f71ccbb51ea01c69f9c78ada

Móng thang máy nhà dân là gì?


Hố Pít thang máy (còn gọi là móng thang máy): Móng thang máy nói chung và móng thang máy nhà dân nói riêng là phần giếng thang phía dưới mặt sàn tầng dừng thấp nhất. Thường được thiết kế nằm ở vị trí âm so với mặt đất. Vì vậy sẽ chịu tác động của các mạch nước thường là các mạch nước ngầm tự nhiên trong lòng đất hay là nước thải sinh hoạt của các công trình xây dựng. Do đó quá trình thiết kế xây dựng phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật để luôn giữ cho hố móng thang máy không bị thấm nước và luôn khô ráo. Đảm bảo sự an toàn cho các thiết bị lắp đặt bên dưới hố móng.

Một số lưu ý, kinh nghiệm khi làm móng thang máy nhà dân


Khi tiến hành thi công thang máy nhà dân, chủ đầu tư, đơn vị thi công cần nên lưu ý một số tiêu chí để đảm bảo những yêu cầu về thiết kế cũng như thi công hoàn thiện. Chủ đầu tư cần nắm vững một số yêu cầu đảm bảo các tiêu chuẩn về kết cấu
Khi thi công nhà trọn gói, nếu thực hiện thi công thang máy thì cần phải bảo đảm các yêu cầu tiêu chuẩn về mặt kết cấu như sau:

Độ bền của móng hố thang máy nhà dân


Theo tiêu chuẩn TCVN 6395: 2008 đối với THANG MÁY ĐIỆN- YÊU CẦU AN TOÀN VỀ CẤU TẠO VÀ LẮP ĐẶT có quy định rất chặt chẽ về kỹ thuật để đảm bảo chất lượng hạng mục công trình:

  • Sàn của hố thang máy phải có khả năng chịu lực tác dụng của ray dẫn hướng. Trừ các ray dẫn hướng kiểu treo khối lượng tính bằng kilogam của các ray dẫn hướng công với phản lực,tính bằng niuton tại thời điểm hoạt động của bộ hãm an toàn.
  • Sàn của hố thang máy phải có khả năng chịu lực tác dụng của thiết bị giảm chấn, cabin.

Trong trương hợp đặc biệt phải bố trí hố PIT phía trên khoảng không gian có thể có người qua lại, thì phải bảo đảm các điều kiện sau:

  • Sàn hố PIT phải chịu được tải trọng không nhỏ hơn 5000N/m2 .
  • Phải có một cột chống dưới vị trí bộ giảm chấn của đối trọng. Hoặc không phải trang bị bộ hãm an toàn cho đối trọng.
  • Hố PIT phải có đường lên xuống an toàn ( các quai sắt chôn trong tường, thang tay cố định, bậc xây..) bố trí ở lối vào cửa tầng và không gây cản trở chuyển động hết hành trình của cabin hoặc đối trọng.
  • Độ sâu của hố thang phải thích hợp, sao cho khi cabin đặt vị trí thấp nhất có thể ( khi giảm chấn đã bị nén hết) thì phải đáp ứng yêu cầu bắt buộc để đảm bảo các yếu tố an toàn.

Xây dựng phương án chống thấm hiệu quả


Chống thấm hố thang máy là hạng mục chống thấm đặc biệt. Khác với các công trình chống thấm thông thường, chống thấm hố PIT thang máy còn phải tính toán đến lực tác động do hoạt động của các thiết bị thang máy gây ra như sự rung lắc của động cơ.

Do vậy nếu không được sử lý chống thấm với phương án tốt nhất, nước sẽ thẩm thấu ngấm vào gây hư hỏng hệ thống máy móc, động cơ và các hệ thống điện. Anh hưởng tới tuổi thọ và kết cấu của công trình. Đặc biệt gây mất an toàn trong quá trình sử dụng và công tác bảo trì bảo dưỡng.

Cần xử lý chống thấm trước khi đi vào sử dụng các hạng mục để tránh xảy ra trường hợp thang máy đã được lắp đặt, công trình đi vào hoạt động bị ngấm nước. Khi đó việc xử lý rất phức tạp, mất nhiều thời gian và chi phí.

Kết luận:


Như vậy, để thang máy nhà bạn thi công chính xác và duy trì tuổi thọ bạn nên chú ý thực hiện những lưu ý trên ngoài ra:

  • Lựa chọn một đơn vị thiết kế và thi công có kinh nhiệm.
  • Tuân thủ theo bản vẽ thiết kế và những lưu ý khi thi công
Tiếp tục đọc
  1034 lần truy cập
1034 lần truy cập

Trước khi đổ bê tông phải đo độ sụt

36400-bf164c1d5f155746c2309b02d5466d8d

Độ sụt của bê tông thể hiện độ dẻo và tính dễ chảy của bê tông. Giá trị này được quan tâm trong quá trình thi công ngoài công trường, nó phụ thuộc vào biện pháp thi công bê tông, ví dụ biện pháp bơm cần hay bơm tĩnh, thi công bê tông móng hay bê tông cột...

Thí nghiệm độ sụt bê tông với dụng cụ phễu hình nón


Độ sụt của bê tông được thí nghiệm ngay tại hiện trường, công tác thí nghiệm độ sụt gồm các bước:

  • Cho hỗn hợp bê tông vào phễu, đầm cho bê tông đều bằng que đầm và gạt bỏ phần bê tông thừa trên phễu
  • Từ từ rút phễu lên trong thời gian ~ 5s sao cho bê tông trong phễu không di chuyển
  • Đợi mẫu bê tông sụt xuống ổn định
  • Lấy thước đo khoảng cách từ đỉnh của bê tông và chiều cao của phễu
  • Khoảng cách này thể hiện độ sụt của bê tông

Thông thường độ sụt của bê tông được quy định rõ ràng trong ghi chú chung trong bản vẽ thiết kế kết cấu:

  • Độ sụt của các cấu kiện móng, cột, dầm sàn đổ bằng bơm bê tông: 6 - 10 cm
  • Độ sụt của bê tông đổ bằng bơm tĩnh: 8 – 12 cm
  • Độ sụt bê tông cọc khoan nhồi: 8 – 12cm
Tiếp tục đọc
  1007 lần truy cập
1007 lần truy cập

Lưu ý khi thi công ép cọc

37043-977d3352e1ba023c2cce41cf2b0204b8
  • Rạn nứt và sứt mẻ đầu cọc.

  • Có khe nứt dọc ở bất kỳ đoạn nào trên thân cọc, nhưng thường có nhiều ở đoạn đầu cọc.

  • Khe nứt ngang thường ở vùng đầu cọc hoặc 1/3 thân cọc.

  • Khe nứt ngang, chuyển thành khe nứt xiên 450 ở phàn cọc trên mặt đất.

Nguyên nhân hư hỏng dạng thứ nhất thường do tập trung ứng suất cục bộ do nhát đập của búa không chính tâm, hoặc do các tấm giảm xung ở mũ cọc không đạt yêu cầu gây ra. Cho nên thi công đóng cọc cần thường xuyên kiểm tra độ đồng trục của cọc, mũ cọc và búa, trạng thái các tấm đệm giảm xung trên và dưới của mủ cọc đặt biệt là độ vuông góc của mặt phẳng tấm đệm trên và mặt phẳng đầu cọc so với trục cọc, độ đồng nhất của vật liệu tấm đệm dưới cũng như độ khe hở của hệ động với cần búa. sự xuất hiện các vết nứt dọc thân cọc có quan hệ với sự gia tăng chung của ứng suất vượt qua sức bền chịu nén động của bê tông cọc dưới tác dụng của tải trong lặp.Hư hỏng này khả dĩ nhất là do chiều cao rơi búa lớn hoặc tấm đệm giảm xung quá cứng. Nguyên nhân khác có thể là mũi cọc gặp đất quá cứng hoặc chướng ngại rắn. Khi đó sẽ tạo ra sóng nén phản hồi cộng vào với sóng nén trực diện làm tăng ứng suất nén trong thân cọc. Ngăn ngừa hư hỏng này bằng cách giảm chiều cao rơi búa và thay các tấm đệm có độ đàn hồi lớn hơn. Thường hay dùng cách thay vật liệu tấm đệm vì cách này ít ảnh hưởng tới độ chối của nhát búa. Ứng suất nén lớn nhất trong cọc khi đóng có thể xác định theo phương pháp trình bày trong Phụ lục C.
Khi độ chối của cọc bị giảm nhiều (nhỏ hơn 0,2 cm) do dùng các biện pháp trên, mà cần phái hạ cọc tới độ sâu thiết kế, nên chuyển đổi dùng búa nặng hơn hoặc tìm cách giảm sức kháng của đất (khoan dẫn, xối nước …).
Một trong những nguyên nhân gây nứt ngang là do thân cọc bị uốn khi mũi cọc bị lệch khỏi hướng xuất phát vì gặp chướng ngại hoặc cần búa bị lệch, bị lắc. Nếu cần búa bị lệch thì nguyên nhân chính là máy chủ đứng trên nền lún không điều. Hiện diện của mô men uốn, quan hệ với độ lệch của cọc hoặc búa đóng so với vị trí ban đầu dễ dàng nhận ra do cọc bị xô về một phía sau khi nâng búa và mũ cọc ra ngoài. Cho nên khi đóng cọc cần phải theo dõi độ thẳng đứng của cọc theo hai phương vuông góc nhau bằng máy trắc đạc.
Nguyên nhân khác gây vết nứt ngang là các sóng kéo, có the hình thành trong cọc khi bắt đầu đóng, cũng như khi mũi cọc xuyên trong đất yếu hoặc khi dùng xói nước, khoan dẫn.
Sức kháng của đất bị yếu biểu hiện qua độ chối có trị số lớn, vì thế khi không cho phép xuất hiện vết nứt ngang cần phải khống chế độ chối lớn nhất trong thời gian đóng cọc BTCT theo độ dài cọc như trong Báng B.1.

Bảng B.1- Ðộ chối lớn nhất theo chiều dài cọc đóng

Chiều dài cọc, m Ðộ chối lớn nhất, cm
Ðến 10 Từ 5 đến 6
Từ 10 đến 15 Từ 4 đến 5
Từ 15 đến 20 Từ 3 đến 4
Trên 20 Từ 2 đến 3

Khi độ chối lớn hơn các trị số nêu trên cần giảm chiều cao rơi búa hoặc dùng vật liệu đệm ít cứng hơn.
Vết nứt xiên (thường với góc gần 450) thường xuất hiện do các nội lực xoắn gây ra khi mũ cọc hoặc cọc bị xoay, hoặc do tác dụng đồng thời của lực kéo và xoắn. Dấu hiệu của tác dụng mô men xoắn là độ xoay của đầu cọc so với vị trí ban đầu khi nâng búa và mũ cọc ra và có vết tì một góc của cọc vào tấm đệm gỗ dưới. Khi đó cần phải xoay cần búa, hoặc dùng mũ cọc có cấu tạo không cản trở cọc xoay quanh trục, hoặc chuyển sang cọc tròn.

Tiếp tục đọc
  924 lần truy cập
924 lần truy cập

Hướng dẫn nghiệm thu chất lượng thi công

37097-a92b97a52ef2a0f64d0cd141e0784ccd

Các bước nghiệm thu chất lượng thi công xây dựng công trình.


Trong quá trình thi công xây dựng công trình (mới hoặc cải tạo) phải thực hiện các bước
nghiệm thu sau:

  • Nghiệm thu vật liệu, thiết bị, sản phẩn chế tạo sẵn trước khi sử dụng vào công trình.

  • Nghiệm thu từng công việc xây dựng;

  • Nghiệm thu bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng;

  • Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng để bàn giao đưa vào sử dụng.

Nội dung công tác nghiệm thu chất lượng thi công xây dựng công trình.

 

Nghiệm thu vật liệu, thiết bị, sản phẩm chế tạo sẵn trước khi sử dụng vào công trình

 

Thành phần trực tiếp tham gia nghiệm thu

  • Người giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư hoặc người giám sát thi công xây dựng công trình của Tổng thầu đối với hình thức hợp đồng tổng thầu;

  • Người phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp của nhà thầu thi công xây dựng công trình.

Trong trường hợp hợp đồng tổng thầu, người giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư tham dự để kiểm tra công tác nghiệm thu của tổng thầu với nhà thầu phụ.
Trách nhiệm của các thành phần tham gia nghiệm thu:
Trực tiếp tiến hành nghiệm thu trong quá trình xây lắp những đối tượng sau đây sau khi nhận được phiếu yêu cầu của nhà thầu xây lắp:

  • Các loại vật liệu, sản phẩm chế tạo sẵn trước khi sử dụng vào công trình;

  • Các loại thiết bị, máy móc trước khi đưa vào lắp đặt cho công trình;

Điều kiện cần để nghiệm thu:

  • Có chứng chỉ kỹ thuật xuất xưởng, lí lịch của các thiết bị, các văn bản bảo hiểm, bảo hành thiết bị (nếu có), các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành thiết bị máy móc của nhà sản xuất;

  • Có kết quả thí nghiệm mẫu lấy tại hiện trường (nếu thiết kế, chủ đầu tư hoặc tiêu chuẩn, qui phạm yêu cầu)

Nội dung và trình tự nghiệm thu:
Kiểm tra tại chỗ đối tượng nghiệm thu;
Kiểm tra chứng chỉ kỹ thuật xuất xưởng, lí lịch của các thiết bị, các văn bản bảo hiểm, bảo hành thiết bị (nếu có), các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành thiết bị máy móc của nhà sản xuất;
Kiểm tra các tài liệu thí nghiệm;
Trong khi nghiệm thu trường hợp cần thiết có thể tiến hành thêm các công việc kiểm định sau:

  • Yêu cầu nhà thầu xây lắp lấy mẫu kiểm nghiệm để thí nghiệm bổ sung;

  • Thử nghiệm lại đối tượng nghiệm thu;

  • Thẩm tra mức độ đúng đắn của các kết quả thí nghiệm có liên quan đến chất lượng đối tượng nghiệm thu do nhà thầu xây lắp thực hiện và cung cấp.

Đối chiếu các kết quả kiểm tra, kiểm định (nếu có) với tài liệu thiết kế được duyệt, các yêu cầu của các tiêu chuẩn, qui phạm kĩ thuật chuyên môn khác có liên quan, các tài liệu hướng dẫn hoặc các tiêu chuẩn kĩ thuật vận hành thiết bị máy móc để đánh giá chất lượng.
Trên cơ sở đánh giá chất lượng ban nghiệm thu đưa ra kết luận:

  • Trường hợp thứ nhất: Chấp nhận nghiệm thu các đối tượng đã xem xét và lập biên bản theo mẫu phụ lục C của tiêu chuẩn này;

  • Trường hợp thứ hai: Không chấp nhận nghiệm thu khi các đối tượng kiểm tra sai với thiết kế được duyệt hoặc không đáp ứng được những yêu cầu của tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình và những yêu cầu của các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên môn khác có liên quan. Ban nghiệm thu lập biên bản (vào sổ nhật kí thi công) về nội dung sau:

    • Ghi rõ tên và số lượng các đối tượng không chấp nhận nghiệm thu;

    • Thời gian nhà thầu xây lắp phải phải đưa các đối tượng không chấp nhận nghiệm thu ra khỏi công trường.

Nghiệm thu công việc xây dựng


Thành phần trực tiếp tham gia nghiệm thu

  • Người giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư hoặc người giám sát thi công xây dựng công trình của Tổng thầu đối với hình thức hợp đồng tổng thầu;

  • Người phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp của nhà thầu thi công xây dựng công trình.

Trong trường hợp hợp đồng tổng thầu, người giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư tham dự để kiểm tra công tác nghiệm thu của tổng thầu với nhà thầu phụ.
Trách nhiệm của các thành phần tham gia nghiệm thu:
Trực tiếp tiến hành nghiệm thu trong quá trình xây lắp những đối tượng công việc xây dựng sau đây sau khi nhận được phiếu yêu cầu của nhà thầu xây lắp :

  • Những công việc xây dựng đã hoàn thành;

  • Những công việc lắp đặt thiết bị tĩnh đã hoàn thành;

  • Những kết cấu, bộ phận công trình sẽ lấp kín;

Điều kiện cần để nghiệm thu:
Đối tượng nghiệm thu đã thi công hoàn thành;
Có đầy đủ các hồ sơ, tài liệu:

  • Biên bản nghiệm thu vật liệu, thiết bị, sản phẩm chế tạo sẵn trước khi sử dụng;

  • Các phiếu kết quả thí nghiệm mẫu kiểm nghiệm có liên quan lấy tại hiện trường;

  • Các kết quả thử nghiệm, đo lường, đo đạc, quan trắc mà nhà thầu thi công xây lắp đã thực hiện tại hiện trường để xác định chất lượng và khối lượng đối tượng cần nghiệm thu;

  • Bản vẽ hoàn công;

  • Nhật ký thi công, nhật ký giám sát của chủ đầu tư và các tài liệu văn bản khác đã xác lập trong khi xây lắp có liên quan đến đối tượng nghiệm thu.

Có biên bản nghiệm thu nội bộ và phiếu yêu cầu nghiệm thu của nhà thầu thi công xây dựng công trình.
Nội dung và trình tự nghiệm thu:
Kiểm tra tại chỗ đối tượng nghiệm thu: công việc xây dựng, thiết bị lắp đặt tĩnh tại hiện trường;
Kiểm tra các hồ sơ ;
Trong khi nghiệm thu, trường hợp cần thiết có thể tiến hành thêm các công việc kiểm định sau:

  • Kiểm tra sự phù hợp giữa khối lượng, chất lượng các công việc hoàn thành với số liệu ghi trong biên bản, tài liệu trình để nghiệm thu;

  • Yêu cầu nhà thầu xây lắp lấy mẫu kiểm nghiệm từ đối tượng nghiệm thu ở công trình để thí nghiệm bổ xung;

  • Thử nghiệm lại đối tượng nghiệm thu;

  • Kiểm tra mức độ đúng đắn của những kết luận ghi trong biên bản nghiệm thu vật liệu, thiết bị, sản phẩm chế tạo sẵn trước khi sử dụng, và các kết quả thí nghiệm có liên quan đến chất lượng đối tượng nghiệm thu do nhà thầu xây lắp thực hiện và cung cấp.

Đối chiếu các kết quả kiểm tra với tài liệu thiết kế được duyệt, yêu cầu của các tiêu chuẩn kĩ thuật chuyên môn khác có liên quan, các tài liệu hướng dẫn hoặc các tiêu chuẩn kĩ thuật vận hành thiết bị máy móc để đánh giá chất lượng.
Trên cơ sở đánh giá chất lượng ban nghiệm thu đưa ra kết luận:

  • Trường hợp thứ nhất: Chấp nhận nghiệm thu các đối tượng đã xem xét và lập biên bản theo một trong các mẫu ghi ở phụ lục D và phụ lục E của tiêu chuẩn này;

  • Trường hợp thứ hai: Không chấp nhận nghiệm thu khi các đối tượng thi công chưa xong, thi công sai hoặc có nhiều chỗ sai với thiết kế được duyệt, hoặc không đáp ứng được những yêu cầu của tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình và những yêu cầu của các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên môn khác có liên quan. Ban nghiệm thu lập biên bản (vào sổ nhật kí thi công) về nội dung sau:

    • Những công việc phải làm lại;

    • Những thiết bị phải lắp đặt lại;

    • Những sai sót hoặc hư hỏng cần sửa lại;

    • Thời gian làm lại, sửa lại;

    • Ngày nghiệm thu lại.

Sau khi đối tượng đã được chấp nhận nghiệm thu cần tiến hành ngay những công việc xây dựng tiếp theo. Nếu dừng lại, thì tuỳ theo tính chất công việc và thời gian dừng lại chủ đầu tư hoặc đơn vị giám sát thi công của chủ đầu tư có thể xem xét và quyết định việc nghiệm thu lại đối tượng đó.

Nghiệm thu bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng


Thành phần trực tiếp tham gia nghiệm thu

  • Người phụ trách bộ phận giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư hoặc người phụ trách bộ phận giám sát thi công xây dựng công trình của Tổng thầu trong trường hợp nghiệm thu bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng do nhà thầu phụ thực hiện;

  • Người phụ trách thi công trực tiếp của nhà thầu thi công xây dựng công trình;

  • Trong trường hợp hợp đồng tổng thầu, người phụ trách bộ phận giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư tham dự để kiểm tra công tác nghiệm thu của tổng thầu với các nhà thầu phụ.

  • Đối với những công trình có chuyên gia nước ngoài cần có đại diện chuyên gia thiết kế và chuyên gia thi công tham gia vào công việc nghiệm thu. Các đại diện này do cơ quan quản lí chuyên gia nước ngoài tại công trình đề nghị, Chủ đầu tư quyết định.

Trách nhiệm của các thành phần tham gia nghiệm thu:
Căn cứ vào qui mô công trình để phân chia bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng;
Phải trực tiếp tiến hành công tác nghiệm thu không muộn hơn 1 ngày kể từ khi nhận được phiếu yêu cầu nghiệm thu của nhà thầu chính xây lắp đối với các đối tượng sau đây:

  • Bộ phận công trình xây dựng đã hoàn thành;

  • Giai đoạn thi công xây dựng đã hoàn thành;

  • Thiết bị chạy thử đơn động không tải;

  • Thiết bị chạy thử liên động không tải;

Điều kiện cần để nghiệm thu:
Đối tượng nghiệm thu đã thi công hoàn thành;
Tất cả các công việc xây dựng của đối tượng nghiệm thu đều đã được nghiệm thu;
Có đầy đủ số các hồ sơ, tài liệu:

  • Các biên bản nghiệm thu vật liệu, thiết bị, sản phẩm chế tạo sẵn trước khi sử dụng;

  • Các biên bản nghiệm thu công việc xây dựng có liên quan;

  • Các biên bản nghiệm thu lắp đặt tĩnh thiết bị có liên quan;

  • Các biên bản nghiệm thu những kết cấu, bộ phận công trình đã lấp kín có liên quan;

  • Các phiếu kết quả thí nghiệm mẫu kiểm nghiệm có liên quan lấy tại hiện trường;

  • Các kết quả thử nghiệm, đo lường, đo đạc, quan trắc mà nhà thầu thi công xây lắp đã thực hiện tại hiện trường để xác định chất lượng, khối lượng đối tượng cần nghiệm thu;

  • Bản vẽ hoàn công;

  • Nhật ký thi công, nhật ký giám sát của chủ đầu tư và các tài liệu văn bản khác đã xác lập trong khi xây lắp có liên quan đến đối tượng nghiệm thu.

Có biên bản nghiệm thu nội bộ và phiếu yêu cầu nghiệm thu của nhà thầu thi công xây lắp;
Nội dung và trình tự nghiệm thu:
Kiểm tra tại chỗ đối tượng nghiệm thu: bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng, thiết bị chạy thử đơn động không tải, thiết bị chạy thử liên động không tải;
Kiểm tra các hồ sơ ;
Trong khi nghiệm thu, trường hợp cần thiết có thể tiến hành thêm các công việc kiểm định sau:

  • Kiểm tra sự phù hợp giữa khối lượng, chất lượng các đối tượng nghiệm thu với số liệu ghi trong biên bản, tài liệu trình để nghiệm thu;

  • Yêu cầu nhà thầu xây lắp lấy mẫu kiểm nghiệm từ đối tượng nghiệm thu ở công trình để thí nghiệm bổ xung;

  • Thử nghiệm lại đối tượng nghiệm thu.

  • Kiểm tra mức độ đúng đắn của những kết luận ghi trong biên bản nghiệm thu vật liệu, thiết bị, sản phẩm chế tạo sẵn trước khi sử dụng; biên bản nghiệm thu công việc xây dựng; biên bản nghiệm thu lắp đặt tĩnh thiết bị có liên quan, các kết quả thí nghiệm có liên quan đến chất lượng đối tượng nghiệm thu do nhà thầu xây lắp thực hiện và cung cấp.

Đối chiếu các kết quả kiểm tra, kiểm định với tài liệu thiết kế được duyệt, yêu cầu của các tiêu chuẩn kĩ thuật chuyên môn khác có liên quan, các tài liệu hướng dẫn hoặc các tiêu chuẩn kĩ thuật vận hành thiết bị máy móc để đánh giá chất lượng.
Trên cơ sở đánh giá chất lượng ban nghiệm thu đưa ra kết luận:

  • Trường hợp thứ nhất: Chấp nhận nghiệm thu các đối tượng đã xem xét và lập biên bản;

  • Trường hợp thứ hai: Không chấp nhận nghiệm thu khi các đối tượng chưa thi công xong, thi công sai hoặc có nhiều chỗ sai với thiết kế được duyệt, hoặc không đáp ứng được những yêu cầu của tiêu chuẩn đánh giá chất lượng công trình và những yêu cầu của các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên môn khác có liên quan. Ban nghiệm thu lập biên bản (vào sổ nhật kí thi công) về nội dung sau:

    • Những công việc phải làm lại;

    • Những thiết bị phải lắp đặt lại;

    • Những thiết bị phải thử lại;

    • Những sai sót hoặc hư hỏng cần sửa lại;

    • Thời gian làm lại, thử lại, sửa lại;

    • Ngày nghiệm thu lại.

Nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng để đưa vào sử dụng.


Thành phần trực tiếp tham gia nghiệm thu:
Phía chủ đầu tư:

  • Người đại diện theo pháp luật và người phụ trách bộ phận giám sát thi công xây dựng công trình của chủ đầu tư;

  • Người đại diện theo pháp luật và người phụ trách bộ phận giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình.

Phía nhà thầu thi công xây dựng công trình:

  • Người đại diện theo pháp luật và người phụ trách thi công trực tiếp của nhà thầu thi công xây dựng công trình;

  • Người đại diện theo pháp luật và người phụ trách bộ phận giám sát thi công xây dựng công trình của Tổng thầu (đối với hình thức hợp đồng tổng thầu).

Phía nhà thầu thiết kế xây dựng công trình tham gia nghiệm thu theo yêu cầu của chủ đầu tư xây dựng công trình:

  • Người đại diện theo pháp luật;

  • Chủ nhiệm thiết kế.

Đối với những công trình có chuyên gia nước ngoài thì cần có đại diện chuyên gia thiết kế và chuyên gia thi công tham gia vào công việc nghiệm thu. Các đại diện này do cơ quan quản lí chuyên gia nước ngoài tại công trình đề nghị, Chủ đầu tư quyết định.
Đối với những công trình có yêu cầu phòng cháy cao hoặc có nguy cơ ô nhiễm môi trường cần có đại diện của cơ quan quản lý nhà nước về phòng cháy chống cháy, về môi trường tham gia nghiệm thu.
Và các thành phần khác trực tiếp tham gia nghiệm thu (theo yêu cầu của chủ đầu tư)
Trách nhiệm của các thành phần tham gia nghiệm thu:
Trực tiếp tiến hành nghiệm thu để bàn giao đưa vào sử dụng những đối tượng sau:

  • Thiết bị chạy thử liên động có tải;

  • Hạng mục công trình xây dựng đã hoàn thành;

  • Công trình xây dựng đã hoàn thành;

  • Các hạng mục hoặc công trình chưa hoàn thành nhưng theo yêu cầu của chủ đầu tư cần phải nghiệm thu để bàn giao phục vụ cho nhu cầu sử dụng.

Thời gian bắt đầu tiến hành công tác nghiệm thu không muộn hơn 3 ngày kể từ khi nhận được phiếu yêu cầu nghiệm thu của nhà thầu chính xây lắp; hoặc nhận được văn bản yêu cầu của chủ đầu tư
Công tác nghiệm thu phải kết thúc theo thời hạn quy định của chủ đầu tư.
Điều kiện cần để nghiệm thu.
Đối tượng nghiệm thu đã thi công hoàn thành;
Tất cả các công việc xây dựng, bộ phận công trình xây dựng, giai đoạn thi công xây dựng của đối tượng nghiệm thu đều đã được nghiệm thu ;
Có kết quả thí nghiệm, hiệu chỉnh, vận hành liên động có tải hệ thống thiết bị công nghệ;
Có văn bản chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về phòng chống cháy nổ; an toàn môi trường; an toàn vận hành theo quy định;
Có đầy đủ các hồ sơ, tài liệu hoàn thành xây dựng có liên quan đến đối tượng nghiệm thu do nhà thầu lập và cung cấp cho chủ đầu tư cùng với phiếu yêu cầu nghiệm thu;
Có đủ hồ sơ pháp lý của đối tượng nghiệm thu do chủ đầu tư lập theo danh mục hồ sơ pháp lý ;
Có bảng kê những thay đổi so với thiết kế đã được duyệt ;
Có bảng kê các hồ sơ tài liệu chuẩn bị cho nghiệm thu ;
Có biên bản nghiệm thu nội bộ của nhà thầu thi công xây lắp;
Đối với trường hợp nghiệm thu để đưa vào sử dụng các hạng mục công trình, công trình chưa thi công hoàn thành thì phải có quyết định yêu cầu nghiệm thu bằng văn bản của chủ đầu tư kèm theo bảng kê các việc chưa hoàn thành ;
Nội dung và trình tự nghiệm thu:
Kiểm tra tại chỗ hạng mục công trình hoặc công trình xây dựng đã hoàn thành;
Kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ;
Kiểm tra việc chạy thử thiết bị liên động có tải;
Kiểm tra những điều kiện chuẩn bị để đưa công trình vào sử dụng;
Kiểm tra và đánh giá chất lượng công tác xây lắp, thiết bị, máy móc, vật liệu, cấu kiện chế tạo sẵn đã sử dụng vào công trình trên cơ sở đó đánh giá chất lượng xây dựng chung của đối tượng nghiệm thu;
Kiểm tra sự phù hợp của công suất thực tế với công suất thiết kế được duyệt;
Trong khi nghiệm thu trường hợp cần thiết có thể tiến hành thêm các công việc kiểm định sau:

  • Yêu cầu các nhà thầu xây lắp lấy mẫu kiểm nghiệm từ đối tượng nghiệm thu ở công trình để thí nghiệm bổ sung, thử nghiệm lại thiết bị để kiểm tra;

  • Yêu cầu chủ đầu tư chạy thử tổng hợp hệ thống thiết bị máy móc để kiểm tra;

  • Thành lập các tiểu ban chuyên môn về kinh tế, kĩ thuật để kiểm tra từng loại công việc, từng thiết bị, từng hạng mục công trình và kiểm tra kinh phí xây dựng;

Đối chiếu các kết quả kiểm tra, kiểm định với tài liệu thiết kế được duyệt, yêu cầu của các tiêu chuẩn kĩ thuật chuyên môn khác có liên quan, các tài liệu hướng dẫn hoặc các tiêu chuẩn kĩ thuật vận hành thiết bị máy móc để đánh giá chất lượng.
Trên cơ sở đánh giá chất lượng Chủ đầu tư đưa ra kết luận:

  • Trường hợp thứ nhất: Chấp nhận nghiệm thu các đối tượng đã xem xét và lập biên bản ;

  • Trường hợp thứ hai: Không chấp nhận nghiệm thu hạng mục, công trình khi phát hiện thấy các tồn tại về chất lượng trong thi công xây lắp làm ảnh hưởng đến độ bền vững, độ an toàn và mỹ quan của công trình hoặc gây trở ngại cho hoạt động bình thường của thiết bị khi sản xuất sản phẩm.

  • Bảng kê các tồn tại về chất lượng lập theo mẫu để các bên có liên quan thực hiện. Phí tổn để sửa chữa, khắc phục do bên gây ra phải chịu.

  • Trong trường hợp cần thiết, Chủ đầu tư có quyền thuê tư vấn độc lập phúc tra và kiểm tra công tác sửa chữa các tồn tại về chất lượng.

  • Sau khi các tồn tại về chất lượng đã được sửa chữa và khắc phục xong, Tư vấn phúc tra lập biên bản nghiệm thu theo qui định và báo cáo Chủ đầu tư để tổ chức nghiệm thu lại.

Sau khi nghiệm thu, Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi hồ sơ tới cấp có thẩm quyền để xin phép được bàn giao đưa hạng mục, công trình xây dựng xong vào sử dụng. Thời hạn xem xét và chấp thuận không quá 10 ngày làm việc sau khi đã nhận đủ hồ sơ hoàn thành hạng mục, công trình theo qui định.
Sau khi có quyết định chấp thuận nghiệm thu để bàn giao đưa hạng mục, công trình xây dựng xong vào sử dụng của cấp có thẩm quyền, chủ đầu tư phải tiến hành ngay công tác bàn giao cho chủ sở hữu, chủ sử dụng hạng mục, công trình theo qui định của tiêu chuẩn TCVN 5640 : 1991.
Tất cả các hồ sơ tài liệu hoàn thành hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng phải được nhà thầu xây dựng lập, đóng quyển thành 6 bộ theo qui định. Trong đó hai bộ do chủ đầu tư, một bộ do cơ quan quản lí sử dụng công trình, hai bộ do nhà thầu xây lắp chính và một bộ do cơ quan lưu trữ nhà nước bảo quản.

Tiếp tục đọc
  1226 lần truy cập
1226 lần truy cập

Tự thi công điện âm tường

31476-0a742b1b77e1d748436da04e3a780876

Bước 1: Bạn phải xác định được vị trí đặt các thiết bị điện sử dụng trong nhà.
Vấn đề này có thể xác định rõ ở trong bản thiết kế. Điều này giúp cho người thi công biết rõ các vị trí và đặt các ổ cắm điện âm tường rõ ràng. Vì để dễ khắc phục những sự cố không mong muốn xảy ra, chúng tôi khuyên các bạn nên tuân thủ nguyên tắc “thiết kế trên cao”. Vì sao? Ở các khu vực thường xuyên hứng chịu lũ cũng như mưa bão. Một cầu dao tổng được lắp đặt cao hơn với mực nước cao nhất có thể tới. Ngoài ra, các mối nối dây điện cũng cần nối ở trên cao sau đó dong xuống dưới để tránh bị ngập khi bão lũ.
Bước 2: Lên sơ đồ hệ thống đường đi của dây điện
Với những ngôi nhà được các kĩ sư thiết kế sẵn của các kĩ sư trong hồ sơ thiết kế, bạn chỉ cần làm theo yêu cầu. Bạn cần giữ bản vẽ đi dây điện âm tường để có thể biết được vị trí lắp đặt để có thể xem xét lại khi xảy ra sự cố không muốn.
Bước 3: Kỹ thuật lắp điện âm tường

31476 0a742b1b77e1d748436da04e3a780876

- Tạo rảnh tường: Sau khi đã có bản vẽ toàn bộ hệ thống điện phải thi công, bạn sẽ dùng phấn hoặc bút để có thể vẽ lên tường đường đi của dây điện có trong bản thiết kế. Đây là một khâu tưởng không cần thiết nhưng nó lại tạo sự rõ ràng, tránh những nhầm lẫn không đáng có. Tiếp đó, bạn có thể dùng máy cắt tường cắt theo đường vẽ vừa rồi. Độ sâu rộng thì tùy thuộc vào yêu cầu và mong muốn của bạn.

31473 2beeeb9b8987d61cf6d2a8174410ce44

- Đi đường ống: Trước hết bạn phải chọn được loại đường ống phù hợp, chất lượng tùy vào nhu cầu và kinh phí bỏ ra. Các loại dây điện âm tường gồm có dây điện các loại, dây cáp điện thoại, ti vi, dây cáp mạng và mạng nội bộ… Các ống dây được đưa vào rãnh và cố định bằng dây kẽm để cho các dây cố định.

- Luồn dây: Trước hoặc sau khi thi công, bạn đều có thể luồn dây sao cho hợp lí. Tuy nhiên, theo lời khuyên của các kiến trúc sư thì việc luồn dây trước khi thi công là tốt hơn bởi nó tránh rắc rối.-

- Hoàn thành: Đây là giai đoạn kết thúc sau khi dây điện đã được luồn kĩ càng theo đúng nguyên tắc. Bạn có thể trám lại những đường ống trước đó để bảo đảm an toàn và tính thẩm mỹ.   

Những lưu ý, nguyên tắc đi dây điện âm tường trong nhà


Qúa trình nối, tạo dây điện luôn quan trọng trong thiết kế và thi công nhà ở, vì thế bất cứ kỹ sư hoặc nhà thầu thi công nào cũng phải nắm bắt được những nguyên tắc quan trọng nhất để đảm bảo sự an toàn và làm tăng tuổi thọ của mỗi công trình.

31474 107017649bd075038c8a7102aad3e386

- Khi thi công, bạn nên chia điện thành nhiều nhánh để có thể dễ thao tác ngắt điện cục bộ từng khu vực lúc sửa chữa, thay lắp các thiết bị điện.

- Lưu ý đối với loại ống dây luồn dây điện phải thực sự chất lượng, chống thấm nước và chịu lực cao. Bởi khi va đập, ống dây không dễ bị dập nát và ảnh hưởng tới dây điện ở phía trong. Một chú ý nhỏ nữa đó là dây luồn ở trong ống chiếm khoảng 75% tiết diện ống.

- Dây điện phải được đi ở những nơi cao, khô ráo và phải tránh xa các nguồn nhiệt lớn, trách sự nóng chảy dây điện và gây chập, nổ.

- Đối với hệ thống dây dẫn điện ở trần đàn thạch cao, tường gạch ống …thì bạn nên sử dụng ống luồn đàn hồi.

- Đối với hệ thống nối đất, bạn nên chọn các màu riêng biệt

- Đối với cùng của một nguồn điện phân phối dùng dây màu giống nhau và khác nhau đối với hai đường điện phân phối.

- Đối với các loại dây cung cấp tín hiệu như điện thoại, mạng internet, mạng nội bộ, hoặc ti vi truyền hình cap thì có nguyên tắc đó là phải kéo thẳng từ nơi đặt tổng đài đến ổ cắm, không nên nối trên đường đi. Một điểm cần đáng quan tâm đó là bạn không thể nối chung với đường đi của dây điện vì nó là loại dây truyền tín hiệu, đi chung với dây điện sẽ tạo hiện tượng nhiễu sóng và dẫn đến việc mất tín hiệu cũng như mất mạng ở điện thoại, cap ti vi. Nếu có thể đầu tư thêm, bạn nên chọn các loại dây có vỏ nhôm bọc ở ngoài, nó có thể chống nhiễu nên bạn có thể nối dây bất cứ đâu, không cần tách biệt với dây điện thông thường.

  

31475 1d988f1eb733e897b66256b1316a05dc

Những điểm cần tránh, không nên làm khi đi dây điện âm tường :

- Bạn không nên đặt dây sâu quá so với 1/3 độ dày của tường nhà

- Cần phải có các mối nối với nhau

- Bạn nên đặt dây điện ở những vị trí có thể đóng đinh, khoan lỗ

- Đặc biệt lưu ý không nên sử dụng ống nước, ống dẫn ga để làm ống luồn cho dây điện.

Tiếp tục đọc
  1197 lần truy cập
1197 lần truy cập

Kỹ thuật xây tường gạch

KoLuTlv

Cấu tạo khôi xây gạch
1.1. Định nghĩa và phân loại
Khối xây gạch là kết cấu lắp ráp hoặc tổ hợp cấc viên gạch (đơn vị khối xây) theo hình thức xếp chồng lèn nhau thành từng hàng, liên kết với nhau bằng vữa hoặc vât liệu xi mãng.
Phân loại khối xây
Trong xây dựng công trình, người ta dùng nhiểu loại khối xây.
Theo vật liệu ta có:
Khối xây bằng gạch: gạch đất sét nung, gạch silicát, gạch bê tông, hỗn hợp gạch nung và đá,...
Khối xây bằng đá: đá hộc, đá dẽo, đá kiểu.
Theo loại gạch sử dụng chia ra:
Khối xây bằng gạch đặc: làm kết cấu chịu lực.
Khối xây bằng gạch rỗng: làm kết cấu bao che, ngăn cách hoặc cách âm, cách nhiệt.

cốt cao độ của sàn tại các góc phòng, quyết định cốt nền sàn tầng đó. Với nhà khung trước khi xây tường cần đưa cốt sàn lên cao 0,5m hay 1m rồi dùng ống thủy bình dẫn đến các cột và đánh dấu bằng sơn đỏ với ký hiệu tam giác cân đặt ngược trên có ghi chiều cao dẫn.
Theo cấu tạo khối xây chia ra:
Khối xây đặc: trong đó không có những khoảng trống giữa các viên gạch: khối xây móng, trụ, tường chịu lực,...
Khối xây nhiều lớp: cấu tạo bởi hai hay nhiểu lớp bằng những vật liệu khác nhau (ví dụ: khối xây bằng gạch bẻ tông và ốp ngoài bằng khối xây gạch gốm).
Khối xây bọc ngoài kết cấu bẻ tông cốt thép hay kết cấu thép (thường là các cột) để bảo vệ hay làm tăng kích thước kết câu nhẳm mục đích tạo hình khối kiến trúc cho công trình.
Khôi xây rỗng: cấu tạo bởi hai hay nhiểu độ dày (lớp) làm bằng vật liệu giông nhau hay khác nhau với lớp không khí hay lớp nhồi bằng các vật liệu cách nhiệt ở giữa. Tính toàn khối (khả năng không bị rờí ra thành những phần riêng rẽ) của khối xây được đảm bảo bởi lực dính giữa gạch đá, vữa; gạch đá xếp mạch so le trong những hàng nằm ngang; hay bởi các thanh thép đường kính 4,8mm hoặc thanh giằng kim loại có độ cứng tương đương gắn vào trong các mối nối ngang.
Theo chiều dày khối xây phân ra:
Khối xây — viên gạch (60mm): đặt gạch nghiêng.
Khới xây — viên gạch (100): đặt gạch nằm dọc
Khối xây 1 viên gạch (220): đặt gạch nằm ngang hoặc bởi hai dãy gạch đặt dọc .
Khối xây 1 — gạch (330): hợp bởi mởt dãy gạch đật dọc và môi dãy gạch
đặt ngang .
Chiều dày của khối xây có thể tăng lên nữa.
Theo cách thức thi công:
Khối xây được thực hiện bằng cách xây từng viên gạch một. Liên kết giữa các viên gạch trong khối xây là các viên đật so le nhau, các hàng gạch ngang và vữa.
Khối xây được thực hiện bằng cách xếp gạch hay đá với mục đích tạo hoa văn hay tạo hình khối kiến trúc. Việc xếp đá nhỏ chèn chật giữa các viên đá to vừa có tác dụng tạo ra các họa tiết trang trí vừa làm tăng độ đặc chắc của khối xếp . Những khối đá to được đẽo gọt k1 và xếp chồng lên nhau đã tạo ra được những hiệu quả đặc biệt như nhà hất thành phố Aguascaliames, Mexico.

Phân loại mạch vữa:
Mạch vữa có nhiệm vụ lấp đầy các mối nối giữa các viên gạch trong khối xây. Trong một khối xây có mạch vữa ngang và mạch vữa đứng.
Mạch vữa ngang liên kết các hàng gạch với nhau. Với tường khối lớn nếu thi công không đảm bảo chất lượng các mạch vữa nằm ngang, tải trọng truyền từ khối này tới khối kia chỉ qua những phần riêng biệt của mạch vữa nằm , ngang dẫn đến cường độ k của tường giảm tính cách âm, cách nhiệt của khối xây.
Mạch vữa thẳng đứng chạy ngang qua khối xây gọi là mạch đứng ngang, mạch đứng chạy dọc theo khối xây gọi là mạch dứng dọc.
Trong khối xây gạch, chiều dày trung bình của mạch vữa ngang là 12mm. Chiều dày trung bình của mạch vữa dứng là lomm. Chiều dày từng mạch vữa ngang và mạch vữa đứng không nhỏ hơn 8mm và không lớn hơn 15mm (TCVN 4085:1985).
Tất cả các mạch vữa ngang, dọc, đứng trong khối xây lanh tô, mảng tường cạnh cửa, cột phải dầy vữa (trừ khối xây mạch lõm) (TCVN 4085:1985).
Cách đặt gạch trong khôi xây
Trong khối xây các viên gạch được đặt theo những quy tắc nhất dịnh nhằm đảm bảo chất lượng công trình về kũ mỹ thuật và hiệu quả kinh tế.
Khối xây đặc:
Kiểu cách xây và các hàng gạch giằng trong khối xây phải làm theo yêu cầu của thiết kế.
Kiểu xây thường dùng trong khối xây là 1 dọc -1 ngang hoặc 3 dọc -1 ngang (TCVN 4085:1985)7
Để đảm bảo có giằng, các viên gạch của mỗi hàng phải đặt khác kiểu với các viên gạch của hàng liền trên. Trong khối xây đặc, có các kiểu đặt gạch sau:Khôi xây với kiểu giằng dọc (kiểu chữ công) :Mạch đứng các hàng gạch liền nhau lệch nhau 1/2 viên gạch. Kiểu này được dùng đế xây tường 60mm, 1 lomm, xây đáy bể nước, xây thành bê nhỏ có chiều cao thấp và tường thành bê dày 220.
Khối xây với kiểu giằng
ngang: Là đặt ngang một viên gạch lên trên mạch đứng sao cho các mạch đứng của các hàng gạch liền nhau so le nhau 1/4 viên gạch. Kiểu giằng theo chiều ngang, trong đó ở tất cả các hàng các viên gạch đều nằm ngang; dùng xây các bộ phận có dạng hình tròn, như ống khói, bê’ tròn, tháp nước,....
Khối xây với kiểu giằng ngang hoa mai: Còn gọi là kiểu xây Flemish, rất được ưa chuộng kể từ sau thế kỷ 17. Ở nước ta kiểu này xưa thường được dùng để xây tường ngoài nhà ở nông thôn, mặt ngoài tường dùng gạch lành, mặt trong dùng gạch vỡ hoặc
đất sét để tiết kiệm vật liệu.
Khối xây với kiệu giăng 1dọc -1 ngang (kiểu liên kết đầu kết hợp với mạch dọc): Dùng cho những khối xây từ đúng gạch trở lên. Theo kiểu này, những mạch đứng ngang, dọc của tất cả các hàng gạch đều được giằng. Các viên gạch của hai hàng trên dưới liền nhau đặt lệch nhau 5cm theo chiều dọc khối xây và lệch nhau 1/2 viên theo chiều dày của nó.

Đây đường như là cách duy nhất mà người ta đã dùng trước kia. Đổ trình tự đặt gạch như thế nên việc thi công tiến triển chậm, tốn công, thao tác của người công nhân phải thay đổi liên tục nên dỗ mệt và hạn chế khả năng sáng tạo. Tuy nhiên hàng gạch dọc được giằng liên tục, chất lượng khôi xây được đảm bảo hoàn toàn. Kiểu này vẫn còn được vận dụng để xây cột, xây móng, xây tường phần thu hồi, xây lanh tô bằng. Kiểu giằng 1 dọc-1 ngang gồm có:
ta khởi đầu xây các hàng gạch dọc bằng viên 3/4. Cứ cách mỗi hàng các mạch đứng ở mặt khối xây lại trùng nhau .
Tương tự kiểu giằng cả khối, chỉ khác là các mạch đứng của các hàng gạch dọc không trùng nhau cứ cách mỗi hàng, mà cách mỗi ba hàng. Để cho các mạch đứng của những hàng liền nhau lệch đi 1/4 gạch, đồng thời các mạch của những hàng gạch dọc lệch nhau 1/2 gạch, người ta khởi đầu xây những hàng gạch ngang bằng 2 viên 3/4 (cho khối xây 1 gạch), khởi đầu xây những hàng gạch dọc bằng một và hai viên gạch đặt ngang, cứ mỗi bốn hàng một lần .

Khối xây với kiểu giằng 3 dọc -1 ngang: Là cứ 3 hàng gạch dọc được giằng bằng 1 hàng gạch ngang. Với kiểu xây này chỉ giằng được hai chiều cho một số hàng gạch. Theo chiều dọc các mạch đứng của các hàng gạch liền nhau lệch 1/4 viên gạch. Theo chiều ngang mạch đứng của 3 hàng gạch dọc đều trùng nhau.
Kiểu xây này vẫn đảm bảo khối xây bền vững. So với kiểu giằng 1 dọc - 1 ngang, nó có ưu điểm là thi công đơn giản, nhanh, tốn ít công vì cách đật gạch ít thay đổi, số gạch đẽo giảm đi rõ rệt, chủ yếu sử dụng gạch đẽo đài 3/4 viên. Với việc tổ cbức lao động hợp lý, cơ giới hóa một số phần việc, kiểu xây này có thể giúp công nhân tâng năng suất lao động. Khi cỡ gạch không đóng đều hoặc xây tường gạch không trát, đùng kiểu này dễ làm mặt tường bằng phẳng, mỹ quan.

Khối xây rỗng:
Tường gạch 1 —các dãy gạch ở phía ngoài đặt dọc, cứ hai viên
đặt dọc có một viên đật ngang, các viên đặl ngang chỉ hiện ra một đầu ở mặt tường gọi là gạch lộ đầu. Cách đặt gạch này luân phiên thay đổi ở mỗi hàng.

Khối xây không trát:
Khối xây không trát là để tiết kiệm và rút ngắn thời gian thi công hoặc muốn giữ nguyên màu sắc của gạch đế trang trí, tạo sự ấm áp, gần gũi (Hình 1.28). Khối xây không trát thường có các loại sau: khối xây bằng gạch thông thường, khối xây ốp^ạch nung (Hình 1.29), khối xây bằng gạch để trần.
Với khối xây gạch trần người thường sử dụng 2 loại gạch: gạch thông thường đặt bên trong, gạch trang trí (gạch gốm,..) đặt bên ngoài, đặt xen kẽ 1 hàng gạch nguyên đến một hàng gạch bổ đôi để các mạch đứng lệch nhau. Những mạch đứng của mặt tường lệch nhau 1/2 gạch và có nét nhỏ, các mạch dọc thì to hơn

Công tác chuẩn bị
Dụng cụ dùng để xây sạch
Gồm dao xây, bay xây. thước tầm, thước vuông, thước sắt cuộn, ống thủy bình, quả dọi, dây xây.
+ Dao xây: loại một lưỡi và hai lưỡi, dùng để xúc và rải vữa, xây, chặt gạch, đẽo gạch.
+ Bay xây: dùng để xây.
+ Thước tầm: dùng để kiểm tra mặt phẳng của khối xây, dùng kết hợp với ni vô để kiểm tra độ thẳng đứng, độ ngang bằng của khối xây. Thước tầm thường được làm bằng nhôm, gỗ.
+ Livô: dùng để kiểm tra độ ngang bằng, thẳng dứng của khối xây. Livô thường được làm bằng hợp kim nhôm, gỗ dài từ 4 đến I,2m (Hình 1.33).
+ Ồng thủy bình: là một ông dẫn bằng chất dẻo có chứa nước, dài 15 - 20m, dùng kiểm tra độ ngang bằng của khối xây có chiều dài lớn (Hình 1.34).+ Thước sắt cuộn: dùng để đổ kích thước khối xây, đổ chiều dày mạch vữa, kích thước cửa,...
+ Quả dọi (Hình 1.35): dùng để kiểm tra, xác dịnh độ thẳng đứng của khối xây. Quả dọi được làm bằng thép, đồng có đầu nhọn trùng với trục của dày treo, nặng 0,3 đến 0,5kg.
BỐ trí chỗ làm việc của thợ xây và phân công lao động một cách hợp lý sẽ giảm bớt các thao tác thừa, các công việc trùng lặp, năng suất lao động sẽ cao.
Vị trí làm viêc của thợ xây gồm có: tuyến xây (1), tuyến bố trí vật liệu (2) và tuyến vân chuyển (3).

Tuyến xây thường rộng 0,6 - 0,7m nằm giữa bức tường đang xây và nơi để vật liệu, Tuyến bố trí vật liệu để xếp gạch và đặt chậu vữa, gạch xếp thàqh hai hàng, đầu viên gạch quay ra ngoài, đổ đó tuyến xây thường rộng 0,5m. Gạch vữa được xếp xen kẽ, kiêu gạch thường đặt bên trái, chậu vữa đặt bên phải cho thuận tay.
Tuyến vận chuyển rộng 0,8 - l,25m để công nhân đi lại và để cấp vật liệu.
Tại chỏ làm việc, trước khi bắt đầu xây nên dự trữ gạch đủ đùng cho 2 giờ làm việc. Chỗ làm việc phải giữ sạch sẽ, ngăn nấp; dụng cụ được để ở chỗ hợp lý, tiện cho sử dụng.

Pha trộn vữa
Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4459:1987)
Vật liệu dùng để pha trộn vữa (chất kết dính, cốt liệu, phụ gia, nước) phải bảo đảm yêu cầu theo các tiêu chuẩn Nhà nưóc hiện hành.
Hốn hợp vữa là hỗn hợp được chọn một cách hợp lý, trộn đều của chất kết dính vô cơ, cốt liệu nhỏ với nước. Trong trường hợp cần thiết, có thêm các phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ.
Vữa là hỗn hợp ở trạng thái đã đông cứng.
Hỗn hợp vữa mới trộn phải bảo đảm độ lưu động yêu cầu và khả nảng giữ nước sao cho khi xây, vữa chắc đặc.
Đối với vữa đã bị phân tầng đo vận chuyển, trước khi dùng phải trộn lại tại chỏ thi công. Không cho phép dùng vữa đã đông cứng, vữa bị khô.
Khi pha trộn vữa, phải bảo đảm cân hoặc đong các thành phần cốt liệu chính xác. Khi cho thêm các chất phụ gia, cần theo chi dẫn của thí nghiệm và quy định của thiết kế.
Chỗ trộn và trữ vữa trong quá trình sử dụng cần được chc mưa, nắng. Khi thi công trong mùa hè, mùa khô, mùa gió khổ nóng, cần bảo đảm độ ẩm cho vữa bằng cách: nhúng nước gạch đá trước khi xây, tưới ướt hề mặt tiếp xúc với vữa, đùng vữa có độ lưu động cao.
Nên trộn hỗn hợp vữa bằng máy, trường hợp không có điều kiện hoặc khối lượng sử đụng vữa ít, có thể trộn hỗn hợp vữa bằng tay.
Khi trộn hỗn hợp vữa bằng máy phải theo trình tự: cho nước vào máy trộn, sau đó đỡ cốt liệu, châ't kết dính, phụ gia vào máy. Khi vữa cổ phụ gia hóa dẻo hữu cơ, trước hết trộn phụ gia với nước khoảng từ 30 đến 45 giây, sau đó mới cho các vật liệu khác vào máy. Chỉ ngừng trộn sau khi hỗn hợp vữa đồng nhất, nhưng thời gian trộn không nhỏ hơn 2 phút.
Khi trộn hỗn hợp vữa bằng tay, sãn trộn cần bằng phẳng, không thấm nước và kín nước đồng thời phải rộng để công nhân thao tác dễ dàng. Dụng cụ trộn hổn hợp vữa phải sạch, không được dính bám đất và vữa cũ. Cách trộn hỗn hợp vữa bằng tay như sau: trộn đều xi măng vói cát rồi đánh thành hốc (để trũng ở giữa). Hòa hồ vôi với nước thành nước vôi. Đổ nước vôi (hoặc nước nếu trộn vữa xi măng, cát) vào hốc và trộn đều cho tới khi nhận được hỗn hợp đồng màu. Nếu có sử dụng phụ gia hóa dẻo thì phải hòa phụ gia vào nước trước. Trộn xong đánh gọn vào thành từng đống.
Chú thích: Không tùy tiện đổ thêm nước vào để trộn cho dễ. Chú ý đến lượng ngậm nước của cát để điều chỉnh lượng nước cho phù hợp.
Độ lưu động của hỗn hợp vữa như sau:
Vữa bơm theo ống đẫn: 14cm; vữa xây đá tự nhiên: từ 9 đến 13cm; vữa xây gạch nung: từ 7 đến 8cm; vữa xây đá hộc, gạch, bê tông: từ 4 đến 8cm; vữa để đổ vào lỗ rỗng trong khối xây đá hộc: từ 13 đến 14cm. Khi xây trong điều kiện khí hậu nóng, vật liệu khô. vật liệu nhiều lồ rỗng, phải lấy các trị sổ lớn. Khi vật liệu chắc đặc và rỗng đã nhúng nước kv, xây trong điều kiện ẩm ướt, trong mùa đóng, lấy giá trị nhỏ.

Xây kết cấu gạch
Gạch được đùng để xây nhà ở, tường thành, pháo đài, chùa chiền, miếu mạo, cầu cống và các bộ phận công trình như cột. sàn, cầu thang, lò sưởi, ống khói, lanh tỏ, bể chứa,...
Người ta cũng đùng gạch để xây móng thay cho móng bằng đá hộc. Ngày nay, người ta sử đụng móng bê tông cốt thép là chính.

Xây tường
Tường nhà có nhiều loại: tường chịu lực, tường không chịu lực, tường ngăn,...
Tường chịu lực: Tường đỡ tải trọng thẳng đứng bất kỳ cộng thêm trọng lượng riêng. Các tường chịu lực phải dày ít nhất 30,48cm cho chỗ tường cao nhất là lo,67m. Tường nhà ở cao ba tầng có thể dày 20-32cm nếu cao không quá lo,67m, nếu không lệ thước vào các lực đẩy từ kết cấu mái.
Tường không chịu lực: Tường không đỡ tải trọng thẳng dứng nào ngoài trọng lượng riêng của nó.
Tường màn: Tường bên ngoài không chịu lực có dạng két cấu sườn khung, cbức năng chính là chắn gió và tránh tác động của thời tiết bên ngoài vào công trình. Đôi khi đổ yêu cầu sử đụng và kiểu tường tính chịu lửa, cách nhiệt lại là đặc tính quan trọng của tường màn. Tường màn có thể là tấm kim loại nhẹ, lớp ván ốp, gạch ốp cách nhiệt, vật liệu bên hay tường nhiều lớp, tường với. những bộ phân khối xây.
Tường ngăn: Tường bên trong một tầng hoặc có độ cao thấp hơn độ cao tầng đùng để phân nhỏ không gian bên trong công trình (như tường ngăn khu vệ sinh). Tường ngăn có thể là tường chịu lực hoặc tường không chịu íực.
Tường ngăn chịu lực xây bằng khối xây có thể được phủ bằng vữa, tấm ốp tường, gồ dán, các tấm gỗ, chất dẻo hoặc những vật liệu khác đáp ứng yêu cầu kiến trúc và cbức năng.
Tường ốp mặt: Tường mà các mặt ngoài và mặt trong khối xây làm bằng những vật liệu khác nhau và liên kết sao cho cùng chịu tác động của tải trọng.
Tường rỗng: Tường khối xây được bố trí để tạo khoảng không khí bên trong tường giữa mặt cắt thẳng đứng bên trong và bên ngoài. Tường rỗng xây bằng đơn vị khối xây hoặc bằng bẻ tông trơn hoặc bằng hỗn hợp các vật liệu được bố trí để tạo ra khoảng không bên trong tường nhầm tạo sự cách nhiệt, và ưong đó giằng các mặt cắt thẳng đứng trong và ngoài với nhau bằng các dây kim loại.
Tường phân chia: Tường trên đường phân lô bên trong sử dụng hoặc thay đổi cho sự phục vụ chung giữa hai cổng trình, tường rào; thường là tường 100 có bổ trụ (trụ liền tường).
Tường mắt cửa: Tường màn bên ngoài ở mặt phẳng của dầm sàn phía ngoài trong các công trình nhiều tầng. Có thể kéo dài từ đầu cửa sổ bên dưới sàn đến bậu cửa sổ phía trên.
Tường tạo mặt: Tường có mạt ngoài bằng khối xây hoặc vật liệu khác gắn chắc chắn vào mặt trong, nhưng khởng liên kết để cùng chịu tác đông của tải trọng, như tường đá ốp,...

Xây tường chịu lực
Trước khi thực hiên việc xây tường bạn nền chia mặt bằng công trình làm nhiều đoạn thậm chí nhiều phân đoạn phù hợp với lượng thợ mà bạn có. Sau đó bạn cần tính tuyến công tác cua một thợ trong một khoảng thời gian làm việc liên tục nửa ca. Tốt nhất nên bô trí đủ số thợ chính và phụ trên một đoạn hay phân đoạn để tường xây lên đều. Việc phân công lao động giữa các tổ thợ sẽ giúp bạn tạo ra những dây chuyển thi công hợp lý, các công việc sẽ diẻn ra một cách nhịp nhàng, giảm thiểu những gián đoạn về mặt tổ cbức giữa các tổ chợ chính và phụ.
Trong khi thợ phụ chuẩn bị vữa và bố trí vật liệu trên mặí bằng, hãy giúp thợ chính xác định tim các tường trong và các tường ngoài (trước đó cần đọc kỹ biên bản nghiệm thu phần móng để hiệu chỉnh tim trục khi cần thiết). Khi hiệu chỉnh nhớ kiểm tra góc vuông của trục ngang và trục dọc. Sau đó dùng sơn đỏ đánh dấu tim trục trên cổ móng để tiện sử dụng và kiểm tra .
Trước khi xây tường cần láng mội lớp vữa chống ẩm cho tường theo thiết kế. Dùng 2 thước nhôm đặt song song hai bên mặt tường móng cách nhau bằng bể dày tường, chú ý đến vị trí tím tường. Cô định thước đúng vị trí bằng móc sắt làm bằng thép phi 6. Đổ vữa vào trong lòng thước dùng bàn xoa sắt vừa gạt bằng, vùa vỗ nhẹ rồi xoa phẳng. Tháo chốt di chuyển thước sang vị trí khác.
Theo bản vẽ kiến trúc tính toán chiều rộng cửa ra vào; cửa không khuôn lấy rộng ra 3 đến 4cm, cửa có khuôn lấy rộng thêm 2 thân khuôn cộng với 5mm: vạch vị trí cửa trên lớp láng chông ẩm. Trước khi xây tốt nhất nên xếp gạch ướm thử trên suốt chiều dài tường ngoài, các viên gạch cách nhau lcm, xếp từ các góc ra, nếu nhỡ gạch, điều chỉnh mạch vữa sao ít phải chặt gạch nhất.
Phải bắt đầu xây từ tường chịu lực, các tường 100 nên để lại xây sau, tại vị trí có tường 100 có thể để mỏ nanh hoặc mỏ nanh và thép chờ theo thiết kế.
Trước tiên xây một hàng gạch đặt ngang trên một phân đoạn nhà, xây từ góc và từ các mép cửa xây ra.
Dựng cọc lèo và căng dây góc

Cọc lèo dùng để căng dây lèo thường cao hơn một tầng nhà. Cọc lèo được làm bằng gổ, tre hay thép hình, xây tường nhà khung không cẩn dựng cọc lèo mà dựa vào cột để xây.
Dây lèo ăn với mép ngoài tường mặt trước hay mât sau nhà, nhờ đó sau khi xây tường sẽ thẳng theo trục nhà và không bị gẫy khúc. Để bảo đảm độ thẳng dứng của khối xây từ đáy lèo người ta thả dây góc tại các góc tường, mép cửa, mép trụ đầu kia của dây được cắm chặt vào khối xây, dùng dọi điều chính cho dây thẳng dứng. Xây tường trong dùng thước cữ kẹp vào khối xây thay dây góc.

  1. Bắt mỏ
    Tại các góc tường, mép cửa thợ chính bắt mỏ lên 4 đến 5 hàng gạch, kiểm tra mỏ theo 6 nguyên tắc xây rồi căng dây'xây, xây đến dâu bắt mỏ đến dó. Khi ngừng xây phải để mỏ giật không được để mỏ nanh hay mỏ hốc.
    Xây tường có cửa ra vào:
    Xây 4 đến 5 hàng gạch thì dựng khuôn.
    Khuôn phải được chống đỡ cẩn thân, được đặt dùng cốt: vết cưa dưới chân khuôn cách cốt nền hoặc sàn 5mm.

Thanh dố ngang phải ngang bằng, mặt phảng khuôn phải thẳng dứng song song với mặt phẳng tường và nhố ra khỏi tường một bề dày lớp trát. Chân khuôn và hai cạnh tiếp giáp với tường phải được quét hắc ín, mỗi khuôn phải có từ 2 đến 3 bật sắt được chôn chặt với tường. Trước khi lát nền tuyệt đối không được tháo thanh giằng chân khuôn. Khi xây nên đặt gạch cách thân khuôn 2 đến 3mm để gỗ co ngót, đãn nở.
Nếu đặt khuôn sau, khi xây tường tuyệt dối không được để cửa rộng quá. Cửa để rộng ỉáp khuôn sẽ dễ dàng hơn nhưng không đảm bảo chèn chắc khuôn với tường; trong quá trình sử dụng dóng, mở cửa nhiều khuôn dễ lỏng dần khỏi tường.
Cửa có khuôn đặt sau hay cửa không khuôn khi xây dểu phải để lỗ chờ bật sắt hay goong cửa. Số lượng lỗ chờ phụ thước vào chiẻu cao cửa.

Cửa cao đưới 2m mỗi bên để ba lỗ chờ ở giữa và cách hai bên mép trên và dưới cửa 3 đến 4 hàng gạch. Khi xây phải thả đây góc dê’ bảo đảm độ thẳng đứng của tường hai bên cửa (Hình 1.40).
Xây múi đua
Là xây gạch nhố ra ngoài tường hay trụ để đỡ mái hiên hoặc để trang trí.
Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):
Phần đua ra của mỏi hàng gạch trong khối xây mái đua cho phép không lớn hơn 1/3 chiều dài viên gạch. Toàn bộ phần đua ra của mái đua gạch không có cốt thép cho phép không ỉớn hơn 1/2 chiều đày tường.
Mái đua ra lớn hơn 1/2 chiều dày tường, phải được xây bằng gạch có cốt thép, bê tông cốt thép hoặc cấu kiện lắp ghép và phải neo chặt vào khối xây, vữa xây có mác không nhỏ hơn 50.
Mái đua có neo trong tường chỉ được xây sau khi tường có đủ cường độ thiết kế. Nếu cần làm sớm hơn thì phải gia cố tạm thời, đảm bảo cho khối xây mái dua và tường ổn định. Trong mọi trường hợp, đêu phải chống giữ tạm đến khi mái đua và tường đạt cường độ yêu cầu.

Kỹ thuật xây:
Cách đặt gạch mái đua có kiểu các viên gạch nhố ra từng viên một hoặc một lớp một viên rồi một lớp hai viên kế tiếp nhau.
Mái đua xây bằng gạch trần phải chọn gạch cùng màu, kích thước viên gạch đều nhau, xây mặt bóng đẹp của viên gạch quay xuống dưới, xây xong cạo mạch, dùng chổi dót quét sạch vữa dính trên gạch.
Xây gờ cũng phải căng dây, chú ý xây các viên bên trong trước (các viên gạch đặt chéo trong hình), rải vữa phía ngoài dày hơn phía trong để viên gạch không bị chúi xuống. Trường hợp xây tựa trên những tâm bê tông cốt thép, trước tiên đặt những tấm đầu, tâm trung gian điều chỉnh sao cho các tấm này ngang bằng, nhố ra đều sau đó căng dáy đặt các tấm còn lại. Sau đó xây mái dua lên trên các tấm bẻ tông đã lắp ghép. Các hàng gạch nhố ra phải xếp ngang. Phải có cây chống dỡ bên dưới cho đến khi khối xây đông cứng.

Xây cách bậu cửa 4 đến 5 hàng gạch thì kiểm tra cốt cao độ và độ ngang bằng của khối xây. Nếu có sai lệch phải tính toán số hàng gạch chẵn và điều chỉnh chiều dày mạch vữa trong phạm vi cho phép, khi cần phải xây vỉa gạch để dừng dùng cốt bậu cửa và ngang bằng.
Với cửa sổ có gờ, khi xây đến vị trí hàng gạch tạo gờ cần vạch vị trí các cưa sổ lên tường. Với mỗi cửa sổ cần đổ chiều rộng cửa, tính sô viên gạch xây gờ; chốt thanh dỡ (7) bằng gỗ la ti vào dưới bậu cửa, xây chính xác hai viên ở hai mép cửa rổi căng đây xây các viên giữa, xây xong cẩn có biện pháp bảo vê tránh đổ hàng gạch gờ cửa.
Xây tường hai bên cửa đến hết độ cao tường đợt 1 thì dừng lại. Ca sau, bắc giáo, dựng khuôn cửa, hay thả dây lèo, xây tiếp đến cách vị trí đặt lanh tô 4 đến 5 hàng gạch lại kiểm tra độ ngang bằng và cao độ của khối xây để điều chỉnh sao cho sau khi xây vị trí tường đặt lanh tô cao hơn cửa lcm và ngang bằng.
Ca sau bắc giáo, lắp dụng ván khuôn, cốt thép và đổ bê tông lanh tô, ô văng. Đổ bê tông lanh tô, ô văng xong có thể xây tường đợt 3 ngay. Bên trên lanh tô đôi khi có gờ chắn nước xây bằng gạch.
Gờ có gờ mái nằm trên đỉnh tường ngay dưới máy nhà, gờ nhỏ xây phía trên cửa, gờ trung gian, gờ giữa các tầng.
Tạo điều kiện thoát nước mưa chảy từ trên mái xuống hoặc nước mưa phả lên tường đồng thời góp phần tăng vẻ đẹp cho ngôi nhà và là một phương tiện thể hiện sự đa dạng trong bố cục kiến trúc. Đổ đó khi xây phải chú ý đến kích thước, độ nhố ra, độ ngang bằng, góc vuông của gờ nhất là khi xây tường gạch trần.

Xây tường cong
Tường cong thường được dùng để xử lý những góc nhà không được vuông hay khi cần thể hiện một ý đồ kiến trúc.
Trước khi xây đoạn tường cong cần phải đóng cọc tim và vạch đoạn cong thạt chính xác trên lớp láng chống ẩm (Hình I.45a). Xây đoạn tuờng cong cầQ dùng các viên gạch nguyên kích thước đều nhau, đặt gạch sao cho mạch vữa hình nêm hướng về tâm đoạn cong, với độ cong nhỏ phải dùng gạch đẽo. Trong quá trình xây thường xuyên đùng dây compa có đầu buộc vào cọc tim của đoạn tường cong để kiếm tra độ hướng tâm của cấc viên gạch xây và độ cong của tường

Xây tường ngăn:
Tường ngăn thường được dùng làm vách ngăn trong các khu bếp, xí tắm,... của nhà dân dụng. Tường ngăn thường mỏng bằng 1/2 gạch nên phải thi công thật cẩn thân. Tường ngàn cho các khu phụ dùng gạch già cường độ cao, chống thấm tốt, chọn các viên gạch có kích thước đều nhau để dễ xây và mặt tường được phảng. Tường khu vệ sinh phải được xây trên gờ chống thấm bằng bê tông.
Trước khi xây tường ngăn liên kết với tường chịu lực bằng mỏ nanh phải tưới vữa lỏng vào các khe rãnh, khi xây bảo đảm thật no vừa tại 3 mặt gạch liên kết với mỏ.
Tường lấp kín khung bắt bước phải có liên kết với cột chịu lực bằng thép chờ, hàng gạch trên cùng được xây vỉa nghiêng để chèn chặt với dầm. Hàng gạch này nên xây sau cùng khi vữa xây đã co ngót hết.
Tường ngăn có khung cửa nên lắp khung cùng lúc với xây, chốt đuôi cá phải được chèn k1 bằng vữa xi măng 1:2 và gạch vỡ.
Một số chú ý khi liên kết tường gạch với sàn, dầm và cột: Với sàn dầm bê tông cốt thép, xây tường đến cao độ thiết kế, chừa lại những lỗ dể gác dầm. Các lỗ chờ đầm nên để theo kiểu mỏ giạt sau này xây chèn đầu dầm được dẻ.
Xây tường chèn khung bê tông cốt thép cần chú ý: mạch xây phải nhỏ, dầu
tường phải được chèn chặt, các cột phải được quét k1 nước xi măng đặc, xây phải
bảo đảm tường và cột dính chặt với nhau. Cứ 5 đến 6 hàng phài có một bật thép
chờ sẵn ở khung cột, bật thép được làm bằng thép 6+8mm dài 0,25 - 0,3m
câu vào mạch vữa xây của tường chèn. Bật thép được đặt sẫn khi đổ bê tông cột
hoặc có thể khoan đặt sau.

Dùng máy kinh v1.Hoặc dùng dọi truyền tim tường (tim đánh trên cổ móng) lên sàn, cô' định tim bằng sơn đỏ. Chú ý nếu trục tường tầng 1 có sai số trong phạm vi cho phép, phải hiệu chính dần ở các tầng. Với tường trong cần kiểm tra các đường mép và tim tường xem có trùng với tường ở tầng dưới không, đừng để xây hẫng với tường dưới hoặc sai lệch kích thước.
Nếu mặt sàn không bằng phẳng phải dùng bê tông sỏi nhỏ hoặc đá dăm nhỏ mác lo0 sửa cho bằng để bắt mỏ được chính xác.
Khi vạch cửa sổ tầng trên phải dùng máy kinh v1 dẫn từ cửa sổ tầng dưới lên để phần tường ở hai bên cửa sổ ở các tầng thẳng đứng không gãy khúc.

Xây tường gạch không trát, không ốp
Tường xây bằng gạch không ốp, không trát đã có từ thời Trung cổ.
Nước ta có gạch gốm Bắt Tràng với màu đỏ, xanh,... tươi rói, ấm áp mà không kém phần sang trọng. Với tường gạch để trần mạch vữa xây có thể được lấp đầy hoặc để lõm. Xây tường không trát, không ốp có các loại mạch vữa sau:
Mạch phẳng (mạch bằng): bề mặt mạch vữa ăn với bề mặt của tường
Mạch lõm: mạch lõm vào khối xây 3 - 4m.
Mạch nghiêng đơn: mạch vữa vát nghiêng từ dưới chân mạch lên.

Mạch cong lồi: mạch vữa cong và lồi ra khỏi mặt tường .
Mạch cong lõm: mạch vữa ong lõm vào trong khối xây , thường dùng cho tường dá.

+ Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):
Phải xây mặt đứng phía ngoài của tường không trát, không ốp bằng những viên gạch nguyên đặc chắc, có lựa chọn màu sắc, góc cạnh đều đăn. Chiều dày các mạch vữa phải theo đúng thiết kế.
Trong khối xây mạch lõm, chiều sâu không trét vữa của mạch phía mặt ngoài được quy định như sau:
Không lớn hơn 15mm - đối với tường.
Không lớn hơn lomm - đối với cột.
Xây tuờng gạch trần kích thước gạch phải thống nhất.
Sai số theo chiều đài (220mm) < ± 4mm.
Sai số theo chiều rộng (lo5mm) < ± 3mm.
Sai số theo chiều cao (60mm) < ± 2mm.
Gạch khồng được cong, vênh, sứt mẻ góc cạnh, rạn nứt, không có khuyết tật ở phía mặt xây trần, các góc phải vuông.
Màu gạch phải thống nhất, đồng đều, lựa chọn trong cùng một điều kiện độ ẩm, thời tiết. Độ hút nước của gạch phải đồng đều và không lớn hơn 12% để bảo đảm khi ẩm khối xây vẫn đều màu. Ngoài ra, khi xây cần chú ý các mạch sao cho ngay ngắn, mạch dứng và mạch ngang thẳng góc nhau và có chiều dày như nhau, các hàng gạch giằng ngang đọc phải theo kiểu đặt gạch đã chọn.

+ Kỹ thuật xây:
Chọn gạch theo yêu cầu kỷ thuật và yêu cầu của thiết kế. Trình tự và kỹ thuật xây giống như xây tường có trát nhưng đòi hỏi cao hơn: các góc vuông phải thật vuông, các đoạn tường cong phải uốn đều theo đây cung; ngang bằng phải thật ngang bằng, thẳng dứng phải thật thẳng dứng, các mcp tường, cạnh cửa, cột trụ phải thẳng và sắc cạnh; mạch vữa đúng và ngang thẳng góc nhau và có chiều dày đều dặn, lõm đều hoặc lồi đều, phẳng nhẵn. Việc xếp gạch khác màu tạo mẫu trang trí nếu có phải thực hiện theo chi dẫn của nhà thiết kế. Xây gờ chú ý chọn mặt bóng đẹp quay xuống dưới. Xây ưụ thì các hàng gạch phải xây thật đều và đối xứng nhau. loại lanh tô cuốn nhố ra khôi mặt tường để trang trí phải bảo đảm nhố ra đều, mặt cuốn phải thật phẳng, cuốn phải cân đều. Trước khi kết thúc một đoạn xây phải làm sạch mặt tường.

+ Kỹ thuật bắt mạch:
Sau khi xây xong phải bắt mạch để tạo thêm vẻ đẹp cho mặt tường và bảo vệ mạch vữa.
Dụng cụ bắt mạch và phục vụ cho cộng tác bắt mạch
Vữa bắt mạch thông thường là vữa xi măng ti lệ 1:1, độ đẻo 4-5cm, sử dụng cát mịn có đường kính hạt 3 đến lmm. Trước khi xây trộn vữa đủ đùng, vun gọn, tạo hốc, đổ đủ nước vào dó, đùng đến đâu đào đến đấy. Vữa xi măng để lâu quá 1 giò không được trộn lại để sử dụng.
Trước khi bắt mạch quét sạch mặt tường, tưới nước đủ ẩm, sửa chữa các mạch chưa dù no hoặc quá đáy, dùng vữa xi măng trắng có pha màu gạch trám lại các góc cạnh viẽn gạch bị sứt mẻ nếu có.
Tiến hành bắt mạch từ trên xuống, bắt mạch ngang trước, mạch dứng sau, di chuyển theo hướng thuận tay trái hay tay phải. Khi bắt mạch, việc ngừng, ngắt đoạn phải ở vị trí thống nhất để tránh bỏ sót. Bê đựng vữa cần đặt sát vào mặt tường, để hứng vữa rơi.
Lên vữa được một đoạn đủ cho vữa trước .se mặt thì đùng bay miết mạnh vào mạch vữa từ trái sang phải cho thật bằng phẳng và có độ sâu đều đặn. Sau đó làm sạch mặt tường ngay không để vữa bám bẩn mặt tường. Các mạch vữa nằm ngang ở góc ngoài của tường cần phải thẳng đều, các mạch đứng ở góc trong (nách tường) phải đích dắc, hai bên phải rõ ràng, không nên tạo thành một đường thẳng từ trên xuống dưới, ảnh hưởng đến mỹ quan. Các mạch liền với khuốn cửa phải dùng vữa trát kín và đều đặn. Bắt mạch vòm cuốn phải được làm ở mặt trước và mặt dưới; lanh tô cuốn bắt mạch ở mặt trước, mặt sau và mạch dưới; các gờ dưới cửa sổ phải bắt mạch cả 3 mặt phố ra ngoài, các gờ trên cửa sổ phải bắt mạch ở mặt trước và mặt dưới; ở chỗ góc phải bắt mạch cho vuông vắn.
Trường hợp xây tường bằng gạch trần loại thông thường, sau khi xây, phải rửa sạch các vết bẩn trên tường bằng axit pha loãng và rửa các viên gạch bằng nước nóng. Sau đó gia công sửa sang iại các mạch vữa cho thẳng và đạt được hình dạng nhất định.

Xây cột gạch
Cột gạch thường được làm kết cấu chịu lực trong các công trình nhỏ, thấp tầng hoặc được dùng để trang trí. Cột gạch có hai loại: cột độc lập và trụ liền tường.
Cột độc lập: là cột phân tách của khối xây. Có các kiểu cột vuông, cột chữ nhật, cột tròn, cột sáu hoặc nhiều cạnh,...
Trụ liền tường: là cột mà liên kết hoặc lắp ghép bằng then của khối xây, được xây dựng như một phần tường, nhưng dày hơn tường và có độ dày đều suốt chiều cao của cột. Đóng vai trò như cột, xà thẳng đứng hoặc cả hai.

Một số chú ý khi xây cột gạch:
Cột gạch thường là kết cấu chịu lực (chịu nén đúng tâm), có tiết diện nhỏ, chịều cao lớn nên phải được thi công thật cẩn thận.
Khi xây không được điều chỉnh bằng cách gõ ngang trụ.
Mạch xây phải đều và đầy vữa, độ thẳng đứng của cột phải được kiểm tra chặt chẽ trong quá trình xây. Chiều dày mạch vữa ngang không vượt quá 10mm.
Trong quá trình xây phải chú ý việc chừa lỗ trong cột nếu có để tránh đục khoét sau khi xây. Cấm khoét đục đường rãnh trong cột, những đường rãnh cần thiết phải được chừa lại trong quá trình xây với những viên gạch đẽo 1/3 hoặc 1/4.
Mỗi đợt xây không cao quá 1,5m.
Giáo xây phải đặt xung quanh cột. không được dựa hay gác lên cột. Khi bắc giáo không để va chạm vào cột.
Cột liền với tường ngăn, khi xây cột phải để mỏ nanh và đặt cốt thép liên kết. không được đế mó hốc.
Trước khi xây cột tầng trên phải dùng máy kinh v1 truyền tim cột từ cổ , móng lên.
Sau khi xây phải có biện pháp đề phòng cột bị va quệt hoặc gió to làm đổ cột.

Xây cột vuông, chữ nhật: Kiểu xếp gạch xây cột
Trước khi xây cần kiểm tra tim cột và độ cao của mặt trên móng trụ. Nếu có nhiẽu cột trên một đường thẳng thì phải căng dây để kiểm tra và điều chỉnh tim trên tất cả các cột: trước tiên người ta kiểm tra tim của hai cột đầu và cuối trên một trục, rồi căng dây kiểm tra tim dọc cửa các cột trung gian, còn tim ngang được kiểm tra bằng cách đổ bằng thước sắt dọc theo dây căng.
Các tim ngang và tim dọc của tất cả các cột phải thẳng góc nhau, nếu có sai số trong giới hạn
cho phép phải tiến hành điều chỉnh. Sau khi điều chỉnh nền dùng sơn dỏ đánh dấu tim cột theo hai phương trên tất cả các cổ móng cột .
Nếu thấy các trụ cao thấp không đều nhau thì đùng bê tông sỏi nhỏ mác 100 sưa cho bằng phẳng dùng cốt thiết kế.
Thường sau khi xây gần hết một tầng mới quay ra xây cột, khi đó tim và cốt của cột sẽ được dẫn từ từn và cốt của tường ra.
Gạch xây cột phải được chọn lựa kỹ, bảo đám chất lượng, kích thước đều nhau, vuông vắn, không bị cong vênh, sứt mẻ. Vữa xây cột là vữa xi mãng, mác vữa lấy thèo thiết kế. Mặt bằng thi công phải sạch sẽ, gạch vữa, dụng cụ phải được sắp xếp bố trí đúng vị trí, trong tẩm tay của thợ. Mặt móng và gạch phải sạch và được tưới nước đủ ẩm.

Từ tim đã đánh dấu trên từng cổ móng dùng thước mét, thước vuông, thước tầm, dây vạch dấu kích thước chân cột lên mặt móng; nên căng dây làm cho cả dãy cột.
Xây hàng gạch thứ nhất theo vạch dấu thật chính xác rồi xây hàng gạch thứ hai và thứ ba, dùng li vô kiểm tra độ thẳng đứng cả bốn mặt cột, đổ vữa đầy mạch ruột.
Để xây được nhanh và chính xác, đảm bảo cột thẳng đứng không bị nghiêng, không bị cong vênh, vặn vỏ dỗ ta phải dựng cọc lèo, căng dây lèo và thả dây góc.
Trong quá trình xây phải thường xuyên dùng thước tầm, thước góc, thước livô để kiểm tra. Xây cách đỉnh trụ 7 đến 10 hàng gạch, càng dây qua cả dãy trụ, dùng ống thủy bình kiểm tra độ ngang bằng của dây, dùng thước sắt kiểm tra chiều cao cột, sau đó tính toán và xử lý để dừng dùng cốt và các đầu cột ngang bằng. Nên sớm thi công bê tông cốt thép dầm sàn hoặc hệ dầm nhà để cố dịnh vĩnh viễn đầu cột, tránh để đầu cột tự do lâu rất dễ bị đổ.

Xây trụ liền tường
Trụ liền tường có tác dụng làm tầng độ cứng và sức chịu lực của tường. Yêu cầu đối với trụ liền tường là phải cùng với tường thành một khối thống nhất. Kiểu xếp gạch xây trụ liền tường.
Về cơ bản xây trụ liền tường cũng giống như xây cột, nên xây trụ với tường cùng một lúc như xây góc tường. Bắt mỏ đến đâu xây tường ngay đến đó.
Sau khi đã xác định được tim trụ và tường thì tiến hành vạch dấu kích thước chân trụ.
Theo dấu chân trụ xây lên 3 đến 4 hàng gạch. Kiểm tra độ thẳng đứng, góc vuông và mặt phảng trụ thì tiến hành thả dây góc. Khi xây cần chú ý đặt các viên gạch tiếp giáp với dây góc, cách đây khoảng Imm, không được chạm vào dây đế phòng đây sai lệch. Trong quá trình xây phải thường xuyên dùng thước vuông để kiểm tra góc vuông của trụ, độ phẳng của mặt trụ của tường, độ thẳng đứng của các góc trụ.
Xây trụ liền tường ngoài phương pháp căng dây lèo còn dùng phương pháp xây bằng thước tầm hoặc các khung gỗ và thước góc.
Xây cột gạch có cốt thép hoặc lõi bê tông cốt thép
Để tăng cường khả năng chịu lực của cột gạch nhất là chịu lực uốn có thể sử đụng cột gạch có gia cường cốt thép hay khi muốn mở rộng tiết diện cột, cần tạo các gờ trang trí,... người ta xây cột gạch có lõi bê tông cốt thép . Ở những cột này dùng vữa xi măng cát, tốt nhất là cát vàng. Các yêu cầu về kỹ thuật và các biện pháp bảo đảm các yêu cầu đó cũng làm như đối với cột gạch.

Xây cột tròn:
Kiểu xếp gạch xây cột tròn.
Việc xác định tim, cốt để xây cột tròn cũng giống vuông hay chữ nhật. Để vạch dâu chân cột trên mặt móng ta phải đùng compa.
Hình 55
Gạch dùng xây cột không nên chọn loại quá già hoặc quá non để dễ đẽo khi cần tạo khung tròn.
Trước tiên xây hàng gạch thứ nhất ăn với dấu vạch trên mặt móng, dùng thước vanh kiểm tra độ tròn của hàng gạch vừa xây, sau đó căng dây lèo tại bốn vị trí 1, 2, 3, 4 và dùng dây dọi điều chỉnh độ thẳng đứng của dây lèo.

Thước vanh, thước tầm và dựa vào dây lèo đứng để xây. Xây các viên ở trong trước, các viên ở phía ngoài phải được đẽo gọt tạo độ cong phù hợp với độ cong của cột, trước khi sửa phải đặt gạch ướm thử, sau khi sửa cũng phải đặt gạch ướm thử rồi mới đem xây. Ở những vị trí không có dây lèo có thể dùng thước tầm ướm đứng, thước vanh ướm ngang để điều chính. Chú ý khi ướm, phải đặt thước vanh ngang bằng, hai đầu thước ăn bóng với dây. Xây gần đến đỉnh cột phải tính toán để hàng gạch xây trên cùng đạt độ cao thiết kế và ngang bằng.

Xây lanh tô và cuốn 
Lanh tô gạch là kết cấu lực trên các cửa đi. cửa sổ hoặc trên các lỗ chừa sẵn có nhịp lớn. Ngày nay, lanh tô gạch được dùng trong các công trình của Ngọ môn thành Hà Nội.
Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):
Các loại lanh tô đều phải xây bằng gạch nguyên, lựa chọn kỹ.
Lanh tô xây vỉa phải có mạch vữa hình nêm đặc, đầu dưới mạch có chiều dày ít nhất 5mm, đầu trên không dày hơn 25mm. Lanh tô phải xây đồng thời từ hai đầu dồn vào giữa, viên gạch khóa phải nằm chính giữa lanh tô (trục chính giữa lanh tô chia đôi viên gạch khóa).
Mạch ngừng thi công đối với lanh tô xây cuốn nhịp lớn được phép bố trí cách hai đầu của lanh tô một cung chắn góc ở tâm 30°. Phần vành cung chắn còn lại phải xây hết trong các đợt tiếp theo.
Vữa xây lanh tô cuốn phải theo yêu cầu của thiết kế.
Gạch và mạch vữa trong lanh tô xây vỉa và xây cuốn phải cùng hướng vào tâm của vòm cuốn. Cấm đặt gạch xây theo kiểu xỉa tiền.
Nếu chiều rộng phần tường giữa các lanh tô nhỏ hơn lm thì phải xây tường cùng mác với vữa lanh tô và không nhỏ hơn mác 25.
Thời hạn giữ lanh tô trên ván khuôn không được nhỏ hơn các trị số ghi trong bảng 1.12.
Bảng 1. 12
Kết cấu lanh tô
Mác
vữa
Nhiệt độ không khí bên ngoài trong thời kỳ bảo dưỡng lanh tỏ (0°C)
Thời hạn giữ tanh tò trong ván khuôn không ít hơn (ngày đêm)
Xây vỉa Xây cuốn

Dưới và bằng +5
10

Trên +5 đến +10
8

Trên +10
5


Dưới và bằng +5
20

10
Trên +5 đến +10 Trên +10
15
10

Lanh tô vỉa đứng thường được xây dưcí dạng gạch trần để trang trí. Cách xây lanh tô vỉa đứng như sau:
Xây tường hai bên cửa lên đến cao trình đặt lanh tô thì dừng lại. Ca sau tiến hành xây biên cuốn, biên cuốn cách mép cửa 2 - 3cm để lại một cái bậc gọi là vai cuốn.
Nếu cửa không khuôn phải lắp dựng cốp pha để đỡ cuốn trong quá trình xây và cho đến khi lanh tô đạt cường độ cần thiết theo bảng 1.1 mới được tháo ván khuôn. Ván khuôn được gia công có chiều rộng bằng chiều dày tường, chiều dài ngắn hơn chiều rộng cửa lcm, đặt cao hơn diểm đặt lanh tô 5 đến 2cm.
Đo chiều dài lanh tố và tính toán sao cho số lượng các viên gạch đứng của cuốn là con số lẻ, chúng đối xứng với nhau qua tâm cuốn. Tùy theo số gạch đã tính toán mà vạch số viên gạch và vữa lên cốp pha.
Trước khi xây tưới ẩm ván khuôn và gạch, chọn những viên gạch có bề mặt đẹp phỏ ra ngoài để xây, rải một lớp cát lên ván khuôn và tưới ẩm cát để tạo độ vồng thi công, ở giữa dày 20mm, hai đầu dày 5mm.
Xây đông thời từ hai đầu lanh tô vào giữa, cho vữa vào giữa viên gạch, dùng tay áp chặt viên gạch vào biên cuốn, viên gạch phải thẳng góc với cốp pha. Viên cuối cùng nằm chính giữa cuốn' gọi là “viên khóa”, cho vữa vào cả hai mặt viên khóa rồi nhét chặt vào, xây xong làm sạch mặt gạch, sửa mạch vữa rồi tiến hành bắt mạch, lau sạch mặt gạch.
Cuốn xây phải thật đối xứng, vữa phải đông đặc, no đều, các viên gạch phải áp chặt vào nhau, mặt phẳng cuốn phải thật phẳng ân với mặt tường (khi xây nên căng dây để làm chuẩn) mép trên và mặt dưới của lanh tô phải ngang bằng.

Xây lanh tô cuốn vòm
Gạch xây cuốn phải là gạch loại A, được chọn lựa kỹ, dùng gạch gốm là tốt nhất. Gạch có thể được gia công trước phù hợp với từng vị trí xây, khi đó mạch vữa có dạng hình chữ nhật, chiều dày đều nhau, trung bình dày 10mm (8 < ômv < 15). Tất cả các viên gạch xây đều phải hướng vào tâm vòm.
Trường hợp gạch xây cuốn không được gia công trước thì mạch vữa có dạng hình nêm (đầu nhỏ không nhỏ hơn 5mm, đầu lớn không lớn hơn 25mm). Gạch phải được ngâm nước kỹ trước khi xây. Vữa xây cuốn là vữa xi măng, mác vữa lấy theo thiết kế, vữa phải đẻo, mạch vữa phải thật no dầy. Một viên gạch non bị vỡ hay một số mạch vữa kém no có thể làm cuốn bị nứt, đổ.
Xây cuốn là một hình thức chuyển trạng thái làm việc từ chịu kéo sang chịu nén để phù hợp với khả năng chịu lực của gạch. Lực đẩy của chân các lanh tô trên các lỗ cửa trung gian triệt tiêu lẫn nhau. Lực đẩy của chân các lanh tô trên các lỗ cửa biên tại các góc truyền vào các mảng tường góc nhà, với các cuốn đơn cung vậy. Do đó chỉ tiến hành xây cuốn khi phần tường đỡ chân các cuốn đạt cường độ cần thiết (ít nhất 7 ngày).
Ván khuôn đỡ cuốn phải được gia công lắp dựng chính xác, đúng đường cong của cuôn; kết cấu ván khuôn phải vững chắc, ổn định, dễ lắp, dễ điều chỉnh và tháo dỡ. Sau khi lắp đựng ván khuôn, đo chiều dài từ đỉnh xuống chân cuốn, tính toán số lượng các viên gạch, chiều dày các mạch vữa sao cho viên khóa nằm đúng trục tàm cuốn. Nếu gạch xây được đẽo đạng hình nêm phải xếp thử trên mặt bằng, chỉnh sửa và đánh đấu thứ tự từng viên. Trên mặt ván khuôn cũng phải vạch và đánh dấu vị trí từng viên gạch cho khớp với tính toán.

Xây cuốn đối xứng từ hai biên cuốn lên đều, xây hai viên ở chân cuốn thật chuẩn, viên gạch hướng vào tâm cuốn. Trong quá trình xây thường xuyên dùng đây compa kiểm tra độ cong trên và dưới của cuốn, kiểm tra độ hướng tâm của viên gạch xây cuốn. Xây viên khóa phải ướm và chém gạch theo hình nêm, phết vữa vào hai mặt bên của viên khóa, đặt theo phương thẳng đứng và chèn căng. Xây cuốn xong phải che đậy, bảo dưỡng cuốn, không để mưa xói vào mạch vữa, nắng làm nứt mạch vữa.
Tháo dỡ ván khuôn cuốn phải tôn trọng thời gian cho phép tháo và trình tự kỹ thuật tháo, tháo dỡ phải nhẹ nhàng, trước khi tháo toàn bộ, tháo nêm, hạ ván khuôn từ lo - 15cm; kiểm tra toàn bộ cuốn, nếu không cổ hiện tượng nứt, sập cuốn mới tháo nốt.

Xây vòm
Vòm dùng cho đường hầm, mái nhà,... Xây vòm về cơ bản giống xây cuốn tròn, nhưng khi xây, các viên gạch không những liên kết với nhau theo chiều dày mà theo cả chiều dài cuốn để bảo đảm tính vững chắc và hoàn chỉnh của toàn bộ cuốn.
Yêu cầu kỹ thuật (TCVN 4085:1985):
Khối xây vòm (kể cả khối xây lanh tô cuốn) và vỏ phải dùng gạch đá có kích thước tiêu chuẩn. Có thể sử dụng vữa xi măng hoặc vữa hỗn hợp để xây vòm, vỏ...

Trước khi xây phải dựa vào cỡ gạch, đá mà chia trước lên ván khuôn (từ đỉnh xuống chân) và điều chỉnh cho chẵn viên gạch.
Gạch, đá dùng cho khối xây vòm và vỏ mỏng phải được ngâm kỹ trước khi xây. Gạch có vết nứt, vỡ, cong vênh đều phải đổi.
Trong khối xây vòm chỉ nên dùng vữa xi măng poóclăng, không được dùng vữa xi măng poóclăng xí và xí măng poóclăng pudơlan cũng như các loại xi măng khác đông cứng chậm, ở nhiệt độ thấp.
Sau khi xây xong phần tường đỡ chân vòm. vỏ mỏng nếu nhiệt độ không khí cao hơn 10°C thì ít nhất 7 ngày mới được bác đầu xây vòm và vỏ mỏng. Nếu nhiệt độ từ 5 đến 10°c thời hạn trên kéo dài 1,5 lần.
Việc tháo dỡ ván khuôn phải làm nhẹ nhàng theo trình tự cân đối trên toàn diện vòm, vỏ mỏng. Trước hết tháo nêm hoặc hộp cát điều chỉnh chân chống hạ toàn bộ ván khuôn xuống từ 0,1 đến 0,15m. Sau khi kiểm tra không thấy các hiện tượng nứt vỡ, sụp đổ mới được tháo dỡ hẳn ván khuôn.
Ván khuôn vòm được lắp dựng toàn bộ hay một phần tùy thước vào chiều dài vòm, loại vòm và theo thiết kế quy dính. Ván khuôn đà giáo phải vững chắc, độ cong phải phù hợp với yêu cầu của thiết kế, bề mặt ván khuôn không lồi, lõm, phải phẳng và cong đều. Sau khi kiểm tra nghiệm thu cẩn thân mới được xây.

Khi xây theo chiều dài. các viên gạch phải liên kết nhau theo kiểu cài răng lược, xây từ đầu này đến đầu kia và xây đồng thời từ hai bên vào nóc vòm. Khi xây để mỏ chéo cho hai bên dài hơn, ở giữa ngắn hơn, có nhự vậy các lớp gạch mới bắt vào nhau được tốt. Không được xây các lớp gạch ngang bằng nhau vì như vậy các viên gạch xây tiếp theo sẽ ăn vữa không chắckhông đầy đủ .
Khi xây tốt nhất không nên để vật liệu lên ván khuôn.
Nếu bước phải để vật liệu lên ván khuôn thì phải đế dàn đêu và cân bằng cả hai bên để tránh ván khuôn biến dạng đổ chịu lực không đều.
Nếu là vòm mái nhà thì đầu vòm phải cách tường chừng 1 - 2cm, không nên xây hẳn vào tường, nếu không vòm sẽ bị nứt vì biến dạng đổ chịu lực. Xây nhiều vòm kế tiếp nhau, tốt nhất nên xây cùng một lúc để triệt tiêu lực đạp ngay ở chân vòm.
Nếu có lỗ chờ ở nóc vòm, phải để chừa ngay trong khi xây, cấm đục sau khi xây ảnh hưởng đến tính toàn khối của vòm.
Xây xong cần láng vữa khắp mặt vòm, phủ rơm rạ, bao tải hoặc bạt dứa để bảo dưỡng. Thời gian và trình tự tháo ván khuôn vòm phải tuân theo chi dẫn của thiết kế.
loại vòm cuốn liên tục đôi khi được dùng để xây cầu thang với mục đích trang trí

Xây ông khối và lò sưởi
Trước khi ống khối và lò sưởi ra đời, lửa chỉ được đốt ở bên ngoài để tránh nguy cơ cháy những ngôi nhà tranh đơn sơ vách đất. Thế nhưng người ta đã nhanh chóng từn ra cách an toàn là đốt lửa trên một bệ đá đặt ở giữa phòng và trổ một lỗ ở mái để thoát khói. Dần dần những chiếc lò sưởi đầu tiên được xây bằng đá và ống khối đã ra đời. Cũng từ đó ngoài cbức năng sưởi ấm, lò sưởi còn được sử dụng như một bộ phận cấu thành của nội thất kiến trúc. Hình 1.69 ống khối đôi bằng đá tại nhà thờ Thánh Osyth Priory, Anh thế kỷ 16.

Yêu cầu kỹ thuật
Về cơ bản ống khối phải vươn cao ít nhất 0,91m so với điểm cao nhất, nơi mà ống khối xuyên qua mái công trình và cao hơn ít nhất là 0,6lm so với nóc mái bất kỳ trong phạm vi 3,08m. Ông khối phải xây bằng đơn vị khối xây chắc hoặc bê tông cốt thép và lót bằng đất sét chịu lửa hoặc loại đất sét phù hợp khác. Trong các ngôi nhà ở, độ dày tường ông khối có thể là 10,16cm.
Trong các công trình khác, độ dày của ống khối đối với các thiết bị sưởi ít nhất phải là 20,32cm cho gần như cả khôi xây. Độ dày của đá tối thiểu phải là 30,48cm. Lò sưởi phải có các mặt trong và mặt bên bằng khối xây chắc hoặc bê tông cổt thép, có độ dày không dưới 20,32cm. Lớp lót bằng gạch chịu lửa dày ít nhất 5,08cm hoặc cung cấp vật liệu được chấp nhận khác trừ phi độ đày là 30,48cm.
Lò sưởi phải có lòng bằng gạch, đá, gạch lát hoặc vật liệu chịu lửa khác đỡ trên tấm chống lửa hoặc trên các cuốn đỡ khung nhẹ bằng gạch. Các lòng này mở rộng ít nhất 50,8cm ra bên ngoài bệ tường ống khối và không dưới 30,48cm xa mỏi mặt bên khoảng trống lò sưởi dọc bệ tường ống khói. Độ dày kết hợp của lòng và kết cấu chịu lực không dưới 15,24cm. Đổ đầy vật liệu không cháy vào không gian giữa ống khối và các dầm, giữa các xà, hoặc các dầm và bất kỳ vật liệu dễ cháy nào để chắn ỉửa.
Họng lò sưởi không dưới 10,16cm và tốt nhất là 20,32cm ở trên đỉnh khoảng trống lò sưởi. Phải đặt van thông gió kim loại mở rộng toàn bô chiều rộng khoảng trống lò sưởi trong họng lò sưởi. Ông dẫn khối phải có diện tích hữu hiệu bằng 1/12 đến 1/lo diên tích khoảng trống lò sưởi.
Khi xây xong ống khói, ống thông hơi, các mạch phải đầy vữa, bể mặt bên trong ống phải vét vữa cẩn thân, miết phẳng, nhẵn.
Các ống khối có thể không chìa ra quá 15,24cm từ mặt của tường dày trên 30,48cm, và ưong các tường mỏng hơn, không được phép xây phần đua ra, trừ phi có các phần nhố ra ngang bằng trên các mặt đối diện của tường này. Tuy nhiên, trên tầng hai của ngôi nhà ở hai tầng, phần đua ra của ống khối trên mặt ngoài của tường bao có thể bằng độ dày tường này. Trong mọi trường hợp phần đua ra không nhố quá 2,54cm cho mỗi hàng gạch nhố ra. Cần bảo đảm chống dột cho mái tại chân ống khói.
Xây lò sưởi:
Vật liệu xây lò sưởi là gạch đặc mác > 75, vữa xi măng cát vàng (mác lấy theo thiết kế), đất sét béo,... Không được dùng gạch silicát, gạch rỗng vì chúng chịu và giữ nhiệ kém.
Khi xây phải bảo đảm vị trí, hình dáng, kích thước của lò sưởi, phễu thu khói, van điều chính, ngăn khối quẩn, toa khói, ông khói. Ở những chỗ thay dối hướng cần tạo độ cong, độ dốc nhất dịnh để giảm bớt sự cán trở trong quá trình thoát khói.
Chú ý đặt ghi lò đúng vị trí, khoảng cách để không tốn nhiệt và đưa củi vào lò dẻ dàng. Cửa vào củi được xây thu dần từ ngoài vào trong theo hình chóp cụt. Sau khi đặt xong ghi lò thì xây giật cấp luôn (tường lửng xây nghiêng) , xây đến dâu đổ cát mịn đến đó (không có cát, lò sẽ chóng hỏng và làm nóng bệ lò sưởi ảnh hưởng đến sứ dụng sau này).
Khi lò sưởi đặt cường độ cần thiết thì tiến hành ốp gạch chịu lửa.
Mặt sàn trước lò sưởi thường được lát cao hơn nên, bằng vật liệu không cháy thường là hoặc gạch.

Xây ống khói:
Trong những khu bếp của nhà ở gia đình, ống khối thường có tiết diện hình vuông, hình chữ nhật. Đường dẫn khối thường xây theo góc nghiêng, một đầu ăn thông với thân ống khói, đầu kia nôi với bộ phận thu khói.
Khi xây ống khối cần chú ý:
Đảm bảo đúng tiết diện trong của đường dẫn khối và thân ống khói.
Thân ống khối phải thẳng đứng.
Bên trong ống khối phải phẳng, nhẵn, không xù xì, quét hai ba lượt nước xi măng cho nhẵn. Nếu cần phải trát phẳng bên trong thì xây đến đâu trát đến đấy (mỗi đoạn cao 40 - 60cm). Các góc của ống khối nén có độ lượn nhất dịnh.
Ở dưới chân ống khối cần xây thấp xuống một đoạn 25 – 30 cm tạo thành chỗ chứa tro muội, bồ hóng khi sử dụng và chứa vữa rơi khi xây trát. Mũ của ống khối cần đặt chính xác, mũ có tác dụng ngăn nước mưa rơi vào ống khói.
Xây bể chứa nước
Bê chứa nước có loại đặt nổi trên mặt đất, đặt trong đất hoặc nửa ngầm dưới đất.
Do tính năng chịu lạc kéo của khối xây gạch đá tương đối kém nên thường chí dùng gạch đá làm nhưng bể nước có dung tích nhố hoặc những bể chứa nước tạm thời.
Bể nước phải bảo đảm yêu cầu chịu lực và chống thấm. Thành bể nước chịu tác dụng của áp lực bẽn của nước chứa trong bể và của lực nén thẳng đứng đổ trọng lượng bản thân gây ra. Bể nước hình'chữ nhật, dưới tác đụng của áp lực bên, trong thành bể xuất hiện lực đọc trục nằm ngang; ngoài ra còn xuất hiện cả mômen theo chiều thẳng đúng và phương nắm ngang.
Nếu tỷ số chiều cao bể và kích thước dài của mặt bể lớn hơn 2, tải trọng hoàn toàn truyển theo phương ngang. Khi xây chú ý liên kết giữa các thành bể phải bảo đảm các viên giằng và chất lượng của các mạch vữa.
Khi tỷ lệ giữa chiều cao bể và kích thước cạnh ngắn của đáy bể nhỏ hơn 2 nhưng lớn hơn 1/2, thì tải trọng truyền theo hai phương. Khi đó ngoài liên kết giữa các thành bể còn phải chú ý. đến cả liên kết giữa thành và đáy bể và bảo đảm chất lượng của các mạch vữa ngang và đứng.
Khi tỷ số giữa chiều cao bể và kích thước cạnh ngắn đáy bể nhỏ hơn 1/2 thì tải trọng hầu như hoàn toàn truyền theo phương thẳng dứng; chú ý liên kết tốt giữa đáy và thành bể.
Nền bể được gia cố bằng lớp đất trộn vôi đầm chặt; ở giữa bể, lớp đất đó dày nhưng càng về phía mép biên bể thì càng mỏng dần, để phòng ngừa khả nâng đáy bể bị lún trọng tâm đổ trọng lượng nước lớn khiến bể bị nứt.
Bể ngầm tường ngoài tiếp xúc với đất thường được quét từ 2 đến 3 lớp bị tum nóng hoặc trát maớít átphan nguội để chông nước từ bên tìgoài thấm vào bể.
Bể lớn thường có thêm tường ngăn để tâng thêm độ cứng cho bể và tạo ra ngăn lọc nước.
Bể được xây bằng gạch nung mác > 75; gạch chỉ đâc già; cường độ cao, ít thấm nước, gạch được làm sạch, tưới nước kỹ để ráo nước mới xây. Vừa xây thường là vữa xi măng mác > 50, cát dùng làm vữa tốt nhất là cát vàng được sàng kỹ bảo đảm độ mịn cẩn thiết và sạch, trộn đủ dẻo.
Nền được san phẳng, tưới nước, đầm kỹ hoặc được gia cố bằng lớp đất trộn vôi đầm chặt.
Trước khi xây cần đổ lớp bê tông gạch vỡ mác 100 lót đáy bể.


Xây đáy bể:
Với bể có dung tích nhỏ. chiều cao không lớn: đáv bê thường được xây bằng gạch, xây theo kiếu xếp gạch chữ công, xây giật lùi không ngồi lên phần đã xây, xây đến đâu chèn kỹ mạch và làm vệ sinh bề mặt gạch đến dó.
Xây thành bể:
Cần tính toán, bố trí đủ số người cần thiết để xây thành bể lên đều, không để mỏ để bảo đảm sự đồng nhất của khối xây. Bể nhỏ, thấp xếp gạch dọc xây theo kiểu chữ công để đảm bảo chống thấm tốt. Mạch vữa dầy lcm phải đặc, no đều. sau khi xây dùng bay chèn kỳ các mạch đặc biệi là mạch đứng. Chú ý khi xây chí dùng tay đicu chinh viên gạch, không dùng dao hoặc bay gõ điêu chỉnh dễ làm lỏng mạch vữa, vữa phải đủ dẻo, khi cần xây mới dáo vữa, dáo vữa đến đâu dùng ngay đến dấy. Xây xong nên che đậy bảo vệ bể chống mưa, nắng hay va chạm. Xây bể được 5 đến 7 ngày có thể tiến hành trát và đánh màu ngay. Trát làm 2 đến 3 lớp theo thiết kế; trát lớp lóí dùng bay miết cho vữa bám chắc vào khối xây, khí lớp vữa mặt đã se. dùng xi măng bột đánh màu ngay.
Khi láng đáy hể chú ý đánh dốc vào rốn bể và vo tròn xung quanh rốn bể, vo tròn 4 cạnh tiếp giáp giữa thành và dáy bể để chống thấm tốt.
Trước khi sử dụng nên tiến hành bơm nước thử, thoạt đầu bơm nước vào từ từ đến 1/3 hay 1/2 chiều cao hể thì dừng lại; ngâm bể 5 đến 7 ngày rồi mới cho nước đầy bể . lại ngâm tiếp một thời gian nữa cho bể lún đều. Sau đó xả nước, cọ sạch bể để kiểm tra lai toàn bộ và xử lý khi có hiện tượng rò rỉ.
Một số sai phạm thường gặp:
Đáy bể bị rạn nứt đổ xử lý nền đáy bể không tốt; đổ láng đáy bể không dùng quy trình kỹ thuật hoặc không che đậy hảo vệ bể nhất là vào những ngày nắng nóng.
Thành bể hay bị rạn nút ngang ở phía ngoài của 4 góc bể đổ vữa xây chất lượng kém, đạc biệt tại chân thành bể nổi.
Bơm nước vào bể quá sớm, bơm nước dẩy ngay một lúc khi bể chưa đạt cường độ cần thiết dẫn đến nứt hoặc vỡ bể.
Không đặt lỗ bay ống thoát nước, không tạo dốc vào rốn bể hoặc không có rốn bể dẫn đến thau rửa be khó khăn.

Xây bể phốt:
Cũng giống như xây bể nước sạch, cần chú ý thêm các điểm sau: Tường ngăn bên trong bể phải được xây đồng thời với vách, không được để mỏ rồimới xây sau. Các phụ kiện bên trong bế như đường ống phải căn cứ theo bản vẽ để xây chặt vào khối xây và dùng vữa trát kỹ. Không được có hiện tượng bị lỏng hoặc bị thấm nước. Các lỗ chờ để thông khí hay lỗ tràn phải được để đủ, đúng vị trí và bảo đảm kích thước thiết kế.

Tiếp tục đọc
  11775 lần truy cập
11775 lần truy cập

Học kỹ thuật xây dựng cơ bản

adt-decor-tuyen-dung-giam-sat-thi-cong

       

                                                                                               

BÀI 1

VỮA XÂY DỰNG

I.    GIỚI THIỆU VỮA XÂY DỰNG
1    Khái niệm và phân loại
a.    Khái niệm
Vữa xây dựng là một hỗn hợp gồm cốt liệu, chất kết dính và nước được chọn theo một tỉ lệ nhất định theo định mức rồi trộn với nhau thật đều.
Cốt liệu để chế tạo vữa thông thường là cát đen, cát vàng, cát trắng…
Chất kết dính để chế tạo vữa là xi măng, thạch cao, vôi…
-    Vữa dùng để xây, trát, láng, lát, ốp và hoàn thiện trang trí cho công trình xây dựng.
-    Khi cần làm tăng thêm một đặc tính nào đó của vữa cho phù hợp với yêu cầu sử dụng, người ta cho thêm vào các chất phụ gia, như phụ gia đông cứng nhanh, phụ gia chống thấm, phụ gia chống axit…
b.    Phân loại vữa
Có nhiều cách phân loại vữa, theo chức năng sử dụng vữa được chia thành năm loại sau:
v    Vữa thông thường:
Là loại vữa được dùng để xây, trát, láng, lát, ốp, hoàn thiện. Vữa thông thường theo thành phần có ba loại
-    Vữa vôi: thành phần gồm cát (đen, vàng), vôi và nước.
-    Vữa tam hợp: thành phần gồm có cát (đen, vàng), vôi, ximăng và nước.
-    Vữa xi măng: thành phần gồm có cát (đen, vàng), ximăng và nước.
v    Vữa hoàn thiện: loại vữa để trang trí cho mặt ngoài công trình.
v    Vữa chịu axít: loại vữa dùng để trát, láng, lát, ốp, bảo vệ các bộ phận công trình làm việc trong môi trường chịu tác dụng của axít hoặc hơi axít. Vữa chịu axít dùng chất kết dính là thuỷ tinh lỏng.
v    Vữa chịu nhiệt: loại vữa dùng để xây trát các bộ phận công trình chịu nhiệt như: xây thành lò nung, xây bếp, xây ống khói…Vữa chịu nhiệt thường dùng là vữa ximăng–samốt.
v    Vữa chống thấm: loại vữa dùng để trát láng, bao bọc các công trình chịu nước. Vữa chống thấm thường dùng là vữa ximăng mác cao 75100 hoặc vữa ximăng có phụ gia chống thấm.
2    Vật liệu chế tạo vữa thông thường
a.    Ximăng
Ximăng là một loại chất kết dính trong thành phần vữa. Khi trộn vữa, ximăng hợp với nước tạo thành keo bao bọc các hạt cốt liệu và lấp đầy khe rỗng giữa các hạt cốt liệu. Keo ximăng khi đông cứng sẽ gắn chặt các hạt cốt liệu với nhau thành một khối rắn chắc. Ximăng dùng để chế tạo vữa thông thường gồm có hai loại:
-    Ximăng portland
-    Ximăng portland hỗn hợp
b.    Vôi: Vôi dùng trong xây dựng là vôi đông cứng trong không khí, ở môi trường ẩm ướt vôi không đông cứng.
Chế tạo
Từ nguyên liệu là đá vôi có hàm lượng CacbonatCanxi nung trong lò ở nhiệt độ 9001100C.
Phản ứng: CaCO3  CaO + CO2
Ta được sản phẩm là vôi cục (thành phần hoá học là CaO).
c.    Cát xây dựng: là những hạt nhỏ do đá thiên nhiên bị phong hoá vỡ vụn mà thành.
d.    Phân loại:
-    Theo sự hình thành cát được chia thành ba loại
+    Cát núi: hạt to sắc cạnh và lẫn nhiều tạp chất nên ít dùng.
+    Cát sông: hạt nhỏ, ít sắc cạnh và sạch, được sử dụng thông dụng để chế tạo vữa xây, trát, láng, lát, ốp và vữa bêtông.
+    Cát biển: nhỏ hạt và sạch, nhưng lại nhiễm mặn nên ít được sử dụng.
-    Theo màu sắc cát được chia làm ba loại
+    Cát vàng: màu hơi vàng, đường kính hạt to, có nhiều ở các vùng núi, được dùng để sản xuất vữa bêtông và vữa chống ẩm.
+    Cát đen: màu xám, cỡ hạt nhỏ hơn cát vàng, có nhiều ở sông và đồng bằng, được dùng để sản xuất vữa xây, trát, lát, ốp.
+    Cát trắng: màu trắng, sạch, được dùng để xây trát và làm nguyên liệu sản xuất thuỷ tinh, kính.
-    Theo đường kính cỡ hạt, cát được chia làm bốn loại
+    Cát to, có đường kính cỡ hạt 0.55mm.
+    Cát vừa, có đường kính cỡ hạt 0.350.5mm.
+    Cát nhỏ, có đường kính cỡ hạt 0.150.35mm.
+    Cát bụi, có đường kính cỡ hạt 0.15mm.
Trong xây dựng thường chỉ dùng hai loại là cát vừa và nhỏ.
e.    Nước
-    Nước dùng để sản xuất vữa phải là nước sạch.
-    Không được dùng nước lẫn chất dầu mỡ, nhiều phù sa vì nó làm giảm độ dính kết và cường độ chịu lực của vữa. Không được dùng nước nhiễm mặn, axit để chế tạo vữa trát các cấu kiện bêtông cốt thép.

II.    CÁC TÍNH CHẤT CỦA VỮA XÂY DỰNG
1    Tính lưu động
-    Tính lưu động của vữa (còn gọi là tính dẻo) thể hiện trạng thái khô, dẻo hoặc nhão của vữa. Tính lưu động của vữa được thông qua độ sụt của vữa.
+    Độ sụt của vữa được xác định bằng thí nghiệm theo tiêu chuẩn Việt Nam
+    Vữa ở trạng thái nhão có độ sụt lớn, ở trạng thái khô có độ sụt nhỏ. Độ sụt thích hợp cho vữa xây, trát thường từ  513cm.
-    Tính lưu động của vữa phụ thuộc vào loại vữa, chất lượng và tỉ lệ pha trộn của vật liệu thành phần, đồng thời còn phụ thuộc vào thời gian pha trộn vữa.
-    Tính lưu động của vữa có ảnh hưởng nhiều đến năng suất, chất lượng của công việc, cho nên khi xây, trát… Tuỳ theo yêu cầu kĩ thuật, tính chất và đặc điểm của công việc, điều kiện thời tiết mà chọn vữa có độ sụt cho thích hợp.


2    Tính giữ nước
-    Tính giữ nước là khả năng giữ  được nước của vữa từ khi trộn xong đến khi sử dụng vữa.
Do vữa để lâu xảy ra hiện tượng tách nước, cát lắng xuống làm cho vữa không đều, đó là hiện tượng vữa bị phân tầng, hiện tượng này thường xảy ra đối với vữa ximăng, làm cho vữa không đều và kém chất lượng.
Tính giữ nước của vữa biểu thị bằng độ phân tầng (kí hiệu P).
Độ phân tầng, theo tiêu chuẩn Việt Nam được xác định bằng hiệu số độ sụt của vữa lúc mới trộn xong và độ sụt của vữa sau khi trộn 30 phút.
+    Nếu P = 0 vữa có tính giữ nước tốt.
+    P  2  vữa có tính giữ nước bình thường.
+    P > 2  vữa có tính giữ nước kém.
-    Tính giữ nước của vữa phụ thuộc vào chất lượng, quy cách của vật liệu thành phần, loại vữa và phương pháp trộn vữa.
+    Vữa ximăng giữ nước kém hơn vữa vôi và vữa tam hợp.
+    Vữa cát vàng giữ nước kém hơn vữa cát đen.
+    Vữa trộn bằng phương pháp thủ công giữ nước kém hơn vữa trộn bằng máy.
-    Trong quá trình sử dụng vữa ta phải chú ý đảo lại vữa để đảm bảo độ đồng đều và độ dẻo, nhất là đối với vữa ximăng.
3    Tính bám dính
-    Tính bám dính của vữa là khả năng liên kết của vữa với các viên xây hoặc mặt trát, láng, lát, ốp. Vữa bám dính kém sẽ ảnh hưởng đến độ bền của sản phẩm và làm giảm năng suất lao động.
-    Tính bám dính của vữa phụ thuộc chủ yếu vào số lượng, chất lượng của chất kết dính có trong thành phần vữa và độ dẻo của vữa. Do đó khi trộn vữa nhất thiết phải cân đong đủ các vật liệu thành phần, phẩm chất, quy cách vật liệu phải được đảm bảo đúng theo tiêu chuẩn quy định, đồng thời vữa phải đảm bảo trộn thật đều và dẻo.
Ngoài ra, tính bám dính của vữa còn phụ thuộc vào độ nhám, độ sạch, độ ẩm của các viên xây, mặt trát, láng, lát, ốp,…Vì vậy khi tiến hành công việc phải làm vệ sinh bề mặt, phải tạo độ nhám, độ ẩm cần thiết
4    Tính chịu lực
-    Tính chịu lực của vữa là khả năng chịu được tác dụng của lực vào vữa. Tính chịu lực được biểu thị bằng độ chịu lực (còn gọi là cường độ–đơn vị tính là daN/cmhoặc kN/cm).
-    Cường độ chịu nén của mẫu vữa có kích thước tiêu chuẩn (R = P/F) được gọi là số  hiệu
+    Đối với vữa vôi: mác 2, 4, 8.
+    Đối với vữa tam hợp: mác 10, 20, 50..
+    Đối với vữa ximăng: mác  50, 75, 100..
Giải thích ý nghĩa
Vữa mác 50 có nghĩa là cường độ chịu nén của vữa là 50daN/cm
-    Khi dùng vữa ta phải sử dụng đúng loại và đúng mác theo chỉ định của thiết kế.
5    Tính co nở
-    Quá trình khô và đông cứng của vữa, vữa bị co ngót. Độ co ngót của vữa khá lớn, khi vữa co ngót thường xảy ra hiện tượng rạn nứt, bong dộp làm giảm chất lượng và mĩ quan của sản phẩm. Do vậy sau khi khi hoàn thành sản phẩm ta chú ý bảo dưỡng sản phẩm để vữa đông cứng từ từ, tránh co ngót đột ngột.
-    Khi vữa bị ẩm ướt sẽ dẫn đến hiện tượng nở thể thích, nhưng độ nở không đáng kể, không ảnh hưởng gì đến sản phẩm.

III.    PHẠM VI SỬ DỤNG VỮA
1.    Vữa vôi
Vữa vôi có cường độ chịu lực rất thấp, tính chống ẩm rất kém, độ co ngót của vữa lại lớn, tuổi thọ thấp nên chủ yếu chỉ dùng được xây, trát cho công trình tạm, xây trát những bộ phận không quan trọng ở nơi khô ráo, ít bị va chạm, ít tiếp xúc với mưa nắng: trát tường ngăn, xây công trình tạm…
2.    Vữa tam hợp
Vữa tam hợp có cường độ và độ bền tương đối tốt; có tính dẻo và tính bám dính; nhanh khô hơn vữa vôi nên được sử dụng khá thông dụng trong xây, trát, láng, lát ; xây tường, trát tường mặt trong và ngoài nhà, trát trần, dầm, cột…
3.    Vữa Ximăng
Vữa ximăng có cường độ và độ bền cao, tính chống thấm tốt, nhanh khô nên được dùng để xây, trát các bộ phận công trình dưới mặt đất, những bộ phận chịu tác dụng trực tiếp của mưa nắng. Vữa ximăng được dùng để láng nền, láng chống thấm, dùng để lát, ốp …

IV.    TÍNH LIỀU LƯỢNG PHA TRỘN VỮA
Định mức dự toán cấp phối vật liệu được tính cho vữa xây, vữa trát có các mác 50, 75, 100, 125, 150. Mác vữa được xác định bằng cường độ nén ở thời gian 28 ngày đêm trên các mẫu lập phương kích thước 70.7x70.7x70.7mm, hoặc trên các nửa mẫu 40x40x40mm theo (TCVN-3121:1979).
Định mức cấp phối cho 1m3 vữa ximăng cát (Ximăng Holcim)

Loại vữa    Mác
Ximăng    Mác vữa    Vật liệu dùng cho 1    
            Ximăng (kg)    Cát (m3)    
Vữa ximăng cát    PCB40    100    320    1.06    
        75    247    1.09    
        50    176    1.11    

Định mức cấp phối cho 1m3 vữa ximăng cát (Ximăng Hà Tiên 1)

Loại vữa    Mác
Ximăng    Mác vữa    Vật liệu dùng cho 1    
            Ximăng (kg)    Cát (m3)    Nước (lít)    
Vữa ximăng cát    PCB30    75    320    1.06    210    
        50    230    1.09    210    

BÀI 2

XÂY GẠCH

I.    YÊU CẦU ĐỐI VỚI KHỐI XÂY GẠCH VÀ CẤU TẠO KHỐI XÂY
1.    Yêu cầu đối với khối xây
a.    Yêu cầu về vật liệu
-    Gạch xây phải có cường độ, kích thước, phẩm chất theo quy định của thiết kế.
-    Các viên gạch phải sạch, có độ ẩm cần thiết.
-    Vữa xây đảm bảo phải đúng loại và đúng mác theo yêu cầu, được trộn đều theo quy cách của thiết kế; khi xây tường; trụ gạch; độ dẻo từ 913cm, khi xây lanh tô, vỉa nghiêng từ  56cm.
b.    Yêu cầu về chất lượng của khối xây
-    Khối xây tường phải đúng vị trí, đúng hình dáng và kích thước, có đủ các lỗ chừa sẵn (cửa sổ, cửa đi, thông gió…) theo quy định của thiết kế và phương án thi công.
Khối xây tường phải đặc chắc, nghĩa là tất cả các mạch vữa phải đầy, mạch ngoài phải được miết gọn. Những chỗ ngừng khi xây tiếp phải làm sạch, tưới ẩm.
-    Từng lớp xây phải ngang bằng.
-    Khối xây phải thẳng đứng, phẳng mặt.
-    Góc của khối xây phải đúng theo thiết kế.
-    Mạch đứng của khối xây không được trùng nhau, phải lệch nhau ít nhất 5cm. Đây là yêu cầu quan trọng góp phần tạo nên khối xây có chất lượng cao.

2.    Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng khối xây
Chất lượng của khối xây được đánh giá thông qua một số chỉ tiêu sau:
-    Chỉ tiêu về vị trí tim, trục của khối xây.
-    Chỉ tiêu về độ ngang bằng, chiều cao của khối xây.
-    Chỉ tiêu về độ thẳng đứng, góc vuông của khối xây.
-    Chỉ tiêu về độ phẳng mặt của khối xây.
-    Chỉ tiêu về độ đặc chắc, so le mạch vữa xây.
Trị số sai lệch cho phép của khối xây
Tên những sai lệch cho phép    Trị số sai lệch cho phép (mm)    
    Xây bằng gạch    
    Tường    Cột    
1.    Sai lệch so với kích thước thiết kế
a-    Bề dày
b-    Xê dịch trục kết cấu
c-    Cao độ khối xây
2.    Sai lệch độ thẳng đứng
a-    Một tầng
b-    Chiều cao toàn nhà
3.    Độ ngang bằng trong phạm vi 10m
4.    Độ gồ ghề trên bề mặt thẳng đứng khối xây có trát vữa    
+15; -10
10
15

10
30
20

5    
15
10
15

10
30
-

5    


3.    Cấu tạo các lớp trong khối xây tường gạch
a.    Nguyên tắc chung
Mỗi loại khối xây đều có cách sắp xếp các viên gạch khác nhau. Nhưng chúng có một quy luật chung ở những chỗ giao nhau giữa các bức tường phải xếp lớp câu, lớp ngắt. Bên câu bên ngắt để đảm bảo khối xây vững chắc, không bị trùng mạch.
b.     Cấu tạo cụ thể


Tường góc 220

                         Tập huấn bổ trợ kiến thức xy nh an tồn thích ứng rủi ro thin tai
                                    Tiên Phước – Quảng Nam 2016    


1

                                                                                                          Trang 61


Tường góc 330






Tường chữ đinh 220





Tường chữ đinh 330



Tường chữ thập 220





II.    THAO TÁC XÂY CƠ BẢN
1.    Dụng cụ để xây gạch
Dụng cụ xây gạch thông thường gồm: bay xây, thước hồ, thước vuông, thước đo chiều dài, nivô, quả dọi, dây xây…

III.    XÂY GẠCH
1.    Xây tường
Dựa vào tính chất chịu lực tường được chia làm hai loại
-    Tường tự mang lực: tường chỉ chịu tải trọng bản thân nó.
-    Tường chịu lực: tường ngoài tải trọng bản thân còn chịu tải trọng do các bộ phận kết cấu khác truyền đến hoặc chịu tải trọng gió, bão.
a.    Xây tường giữa hai  mỏ
-    Khi xây đoạn tường giữa hai mỏ phải căng dây rối mới xây, dùng dây để làm cữ và kiểm tra độ ngang bằng của mặt tường, đối với tường 110 trở xuống dây được căng ở phía mặt tường cần lấy phẳng.
-    Xây lớp nào căng lớp đó. Dây phải bám vào mặt trên của những lớp gạch tương ứng của hai mỏ, dây phải căng, không bị vướng vào gạch, vữa.
-    Khi xây những viên gạch giữa hai mỏ phải điều chỉnh cho mặt trên viên gạch ngang bằng với dây cạnh bên ăn thẳng với lớp gạch đã xây bên dưới.
-    Tường giữa hai mỏ có thể là tường chịu lực, tường chèn khung chịu lực, tường ngăn.
-    Gạch xây tường là gạch loại A có cường độ 75kg/cm2, vữa ximăng mác 50, 75
-    Tường chịu lực thường xây theo phương pháp xếp gạch một dọc, một ngang hay ba dọc một ngang.
-    Xây tường chèn khung chịu lực cũng như xây tường chịu lực. Thép chờ sẵn ở khung cột có tác dụng liên kết tường và khung cho nên trong quá trình xây cần chú ý: tại vị trí có thép chờ phải xây bằng vữa ximăng.
-    Lớp trên cùng sát với đáy dầm hoặc giằng phải xây vỉa nghiêng, chèn vữa kín đầu trên viên gạch rồi mới xây.


b.    Xây tường thu hồi
Tường thu hồi là tường chịu lực và tạo cho mái có độ dốc theo thiết kế, mái ngói có độ dốc từ 7080%, mái tôn có độ dốc từ 1520%. Có tường thu hồi đối xứng và không đối xứng.
v    Dựng cột và căng dây lèo
-    Kiểm tra cố định chân của phần tường định xây thu hồi hay còn gọi là mặt tường khẩu.
-    Vạch điểm nóc thu hồi trên mặt tường khẩu
Điểm nóc thu hồi trên mặt tường khẩu khi thu hồi đối xứng là điểm giữa các bức tường thu hồi. Nếu thu hồi không đối xứng điểm nóc được xác định dựa vào độ dốc của mái (i) và độ cao của phần tường thu hồi tính từ mặt tường khẩu lên đỉnh thu hồi. Cụ thể được tính như sau:
 hoặc
v    Dựng cột lèo
-    Chọn gỗ hoặc tre có độ dài cho phù hợp.
-    Đóng thanh cữ số 1 và thanh giằng số 2 lên đỉnh cột. Đo từ mặt dưới thanh cữ xuống một đoạn bằng chiều cao phần thu hồi, đánh dấu tại vị trí 4 bằng mực hoặc sơn.
-    Dựng cột lèo sao cho vạch mực số 4 trùng với mực tường khẩu. Đồng thời điều chỉnh cột sao cho thanh cữ 1 trùng với vị trí của đỉnh thu hồi. Sau đó dùng dọi đưa tim tường thu hồi lên thanh cữ.
v    Căng dây lèo
Từ vị trí tim tường trên thanh cữ đo sang hai bên bằng ½ chiều dày tường thu hồi xác định hai điểm A và B. Dùng dây căng từ  A và B  đến các vị trí tương ứng ở điểm chân C, D, C,, D,
v    Kĩ thuật xây:
Trước hết xây mỏ hai bên đầu tường phần thu hồi, các viên xây phỉa thoã mãn điều kiện: cạnh dưới của viên xây ăn với mép tường khẩu, góc trên ăn với dây lèo. Căng dây để xây khoảng tường giữa hai mỏ.
-    Khi xây phải để lỗ dầm trần nếu có, chừa các lỗ xà gồ đúng vị trí.
-    Khi có nhiều tường thu hồi, nên xây ở hai đầu trước. Căng dây giữa hai tường đã xây để xác định điểm nóc.
2.    Xây trụ
Trụ là cấu kiện chịu nén, trụ thường mảnh, kích thước tiết diện nhỏ nên chỉ lệch tâm một chút là trụ có thể bị đổ vì vậy yêu cầu trong khi xây dựng cần phải chính xác.
a.    Yêu cầu kĩ thuật
-    Trụ xây phải đúng vị trí, đúng hình dáng kích thước, thẳng đứng, no mạch, các mạch đứng của hàng kề liền không trùng nhau, chiều dày mạch vữa từ 8mm.
-    Không được động mạnh đến hàng gạch mới xây và có biện pháp bảo vệ sau khi xây xong.
b.    Cấu tạo các loại trụ xây gạch

                         Tập huấn bổ trợ kiến thức xy nh an tồn thích ứng rủi ro thin tai
                                    Tiên Phước – Quảng Nam 2016    


1

                                                                                                          Trang 61


Trụ tiết diện vuông, chữ nhật
                         Tập huấn bổ trợ kiến thức xy nh an tồn thích ứng rủi ro thin tai
                                    Tiên Phước – Quảng Nam 2016    


1

                                                                                                          Trang 61


c.    Xây trụ độc lập tiết diện vuông chữ nhật
v    Công tác chuẩn bị
-    Gạch, vữa phải đảm bảo yêu cầu kĩ thuật.
-    Mặt móng trước khi xây phải tưới ẩm, vệ sinh sạch sẽ.
-    Kiểm tra cao độ móng trụ, có biện pháp xử lí trường hợp cao hoặc thấp không đáp ứng yêu cầu kĩ thuật cần thiết. Chú ý thực hiện cho cả dãy trụ.
-    Dựa vào trục của công trình đã có căng dây xác định trục ngang, trục dọc của trụ. Vạch dấu trục lên mặt móng đồng thời kiểm tra vuông góc giữa hai trục dọc và ngang.
Xác định kích thước trụ trên mặt móng
-    Từ điểm giao nhau giữa trục dọc và trục ngang dùng thước mét, thước vuông xác định kích thước trụ và vạch dấu lên kích thước móng.
-    Trường hợp xây nhiều trụ cùng kích thước, nên làm cữ kích thước để đo cho nhanh, việc xác định kích thước trụ có thể tiến hành theo trình tự:
-    Từ tâm điểm của trụ đo về hai phía theo phương dọc và phương ngang một đoạn bằng ½ chiều rộng chân trụ
-    Dùng thước ke vuông để vạch đường bao chân trụ

Phương pháp xây:
-    Xây lớp gạch thứ nhất
+    Dựa vào vạch dấu kích thước trụ để xây lớp gạch đầu tiên.
+    Kiểm tra lại độ vuông góc, kích thước của lớp gạch thứ nhất. Khi đó lớp gạch thứ nhất có thể thay thế cho đường bao kích thước để làm cơ sở xây các lớp gạch phía trên.
-    Xây các lớp gạch tiếp theo
Các lớp gạch tiếp theo được xây theo hai cách: căng dây lèo xây hoặc dùng nivô hay quả dọi để kiểm tra quá trình xây.
+    Căng dây lèo:
Dùng bốn sợi dây lèo ghim vào bốn góc của lớp gạch thứ nhất. Dùng dọi điều chỉnh dây lèo cho thẳng đứng theo hai phương. Dây phải căng không bị sai lệch trong quá trình xây.
Đối với trụ có kích thước nhỏ 220x220; 220x330, để khỏi vướng chỉ căng ba dây. Xây được từ  57 lớp dùng dọi hoặc nivô để kiểm tra.
-    Dùng Nivô kiểm tra trong quá trình xây
Dựa vào lớp gạch thứ nhất áp nivô vào kiểm tra thẳng đứng bốn mặt của lớp thứ hai và thứ ba. Nivô được đặt ở vị trí các góc của trụ, dùng bay xây điều chỉnh cho đến khi lớp gạch thứ nhất, hai và ba tiếp xúc với cạnh Nivô.
Khi điều chỉnh xong đạt yêu cầu mới đổ vữa đầy mạch. Không được đổ đầy mạch trước khi chỉnh.
-    Xây lớp gạch thứ tư trở lên
Dựa vào các lớp gạch ở dưới áp thước tầm để xây ở trên.
Thước tầm áp tại các vị trí góc trụ và luôn tiếp xúc với các lớp xây dưới đồng thời thẳng với lớp xây trên là được.
Trong qúa trình xây cần kiểm tra độ phẳng, ngang bằng của trụ.
Chú ý
-    Khi xây không được điều chỉnh bằng cách gõ ngang trụ.
-    Không xây cao quá tầm với.
-    Trong một ngày không xây cao quá 1.4m.
-    Khi xây một dãy trụ nên xây hai trụ ở hai đầu trước, sau đó căng dây để xây các trụ ở giữa.
-    Phải có biện pháp đề phòng trụ bị va quẹt hoặc gió làm đổ trụ.
-    Xây trụ ở đợt trên phải bặt giáo ba mặt của trụ.
-    Khi xây cách đỉnh trụ từ 710 hàng gạch, phải tính toán và xử lí chiều dày mạch vữa để lớp trên cùng đạt độ cao thiết kế.
3.    Xây trụ liền tường
a.    Công tác chuẩn bị
Xây trụ liền tường cần phải làm các công việc chuẩn bị giống như xây trụ độc lập, đồng thời phải xác định được tim trụ và tường để từ đó vạch dấu kích thước chân trụ.
b.     Phương pháp xây
v    Xây trụ liền tường bằng dụng cụ hổ trợ
-    Dựa vào vạch dấu kích thước để xây lớp gạch đầu tiên.
-    Dựa vào lớp gạch thứ nhất áp nivô hoặc thả quả dọi kiểm tra thẳng đứng ba mặt của các lớp trên (tương tự như xây trụ độc lập).
v    Xây trụ liền tường có dây lèo
-    Xây lớp gạch thứ nhất
Căn cứ vào tim tường vạch kích thước trụ để xây lớp gạch thứ nhất cho cả tường và trụ. Dùng lớp này làm cữ để xây các lớp trên. Viên gạch xây đầu tiên phải được đặt ở vị trí của trụ liền tường được xem như một mỏ để xây.
-    Căng dây lèo
Phần tường giữa hai trụ được căng dây giữa hai trụ để xây như xây tường phẳng. Tại vị trí trụ phải căng dây lèo để xây. Mỗi trụ dùng hai dây lèo được ghim vào hai góc ngoài của trụ, đầu trên của dây được cố định dây căng ở phía trên. Dùng dọi điều chỉnh dây lèo thẳng đứng theo hai phương. Dây lèo phải đảm bảo căng, thẳng đứng không bị gió làm sai lệch.
-    Xây các lớp tiếp theo
Vì trụ liền tường nên phải xây đồng thời trụ và tường với nhau. Hoặc tại vị trí của trụ người ta xây trụ để mỏ giật về hai phía để xây phần tường sau.
Chú ý:
Khi xây các viên gạch tiếp giáp với dây lèo phải đặt cách dây khoảng 1mm, không được chạm vào dây đề phòng dây sai lệch. Tại góc tiếp giáp với tường cần thường xiên dùng thước vuông kiểm tra độ vuông góc. Trong quá trình xây trụ liền tường phải thường xiên dùng thước tầm kiểm tra độ phẳng của mặt trụ, độ thẳng đứng của góc trụ tiếp giáp với tường.
Những sai phạm khi xây trụ độc lập và trụ liền tường
-    Gạch ướt, vữa nhão dẫn đến thân trụ không thẳng.
-    Viên xây không ngang bằng dẫn đến chịu lực kém.
-    Với trụ liền tường xếp gạch không đúng cấu tạo, do đó trụ và tường liên kết không chặt chẽ mạch đứng tiếp giáp tường và trụ dễ trùng nhau.
-    Khi xây va chạm vào dây lèo hoặc không kiểm tra vào dây lèo làm trụ bị nghiêng, vặn.
-    Trụ không vuông góc với tường do lấy mực sai.
4.    Xây bậc
a.    Xây bậc tam cấp


Nền nhà (cốt 0.000) thường được làm cao hơn đất thiên nhiên. Để cho việc sử dụng thuận lợi ta phải xây bậc lên xuống (bậc tam cấp). Tam cấp có số bậc phụ thuộc vào chiều cao của cốt (cao độ) nền, chiều cao mỗi bậc từ 1520cm, mặt bậc 2535cm.








v    Công việc chuẩn bị
1.    Kiểm tra ngang bằng và độ cao nền.
2.    Xác định điểm giữa O và bậc tam cấp.
3.    Xác định và vạch kích thước bậc.
Bậc thứ nhất:
-    Từ điểm giữa O của bậc đo về hai phía bằng ½ kích thước chiều dài bậc xác định được hai điểm A và B.
-    Từ hai điểm A và B dùng dọi hoặc thước hồ và nivô xác định điểm A1 và B1 dưới chân tường móng.
-    Chia độ cao mỗi bậc trên đường thẳng AA1 và BB1.
-    Kẽ A1C và B1D bằng kích thước của bậc thứ nhất và vuông góc với tường móng. Khi đó A1CDB1 là đường bao của kích thước.
Xác định kích thước bậc thứ hai    
(Tương tự như xác định kích thước bậc thứ nhất).
v    Yêu cầu kĩ thuật:
-    Bậc phải xây đúng vị trí đúng kích thước.
-    Các bậc phải đều nhau về chiều rộng, chiều cao, cạnh bậc phải thẳng, mặt bậc phải ngang bằng.
v    Phương pháp xây:
-    Xây bậc thứ nhất
+    Xây một lượt bao quanh đường vạch kích thước của bậc dưới cùng.
+    Xây các viên mỏ số 1 và điều chỉnh cao độ trùng với mạch dấu cao độ A2 của bậc 1.
+    Xây các viên mỏ số 2, dùng nivô điều chỉnh thăng bằng với viên mỏ số 1.
+    Căng dây giữa viên mỏ s ố 1 và 2 để xây các viên giữa.
+    Xây các viên ở phía trong theo trình  tự từ trong ra ngoài, lớp một đến lớp hai
-    Xây bậc thứ hai
Việc lấy dấu và trình tự cũng như xây bậc thứ nhất. Để không làm long mạch bậc thứ nhất cần lót ván đứng để xây.
Chú ý:
-    Lớp trên của mỗi bậc nhất thiết phải đặt gạch dọc theo chiều rộng của bậc.
-    Khi xây xong phải có biện pháp bảo vệ cho bậc không bị lật. Trường hợp xây không láng phải đợi cho vữa co ngót xong mới tiến hành bắt mạch bằng vữa ximăng cát (X/C) tỉ lệ 1:3.

b.    Xây bậc cầu thang
v    Cấu tạo cầu thang
Cầu thang có các bộ phận sau
-    Chân thang
-    Thân thang bậc lên xuống.
-    Sàn chiếu nghỉ, chiếu tới.
-    Lan can cầu thang.
Để đi lại được dễ dàng, bậc thang thường có chiều cao 1518cm và bề rộng từ
2530 cm.

Cấu tạo cầu thang
v    Chia bậc
Thường phải căn cứ vào kích thước cụ thể của đan cầu thang đã thi công để chia bậc.
v    Xây bậc
-    Bậc được xây từ dưới lên trên. Phải  bắc ván lên bậc dưới để đứng xây bậc trên
-    Xây hai viên mỏ ở hai đầu theo vạch dấu mỗi bậc đã có
-    Căng dây xây các viên ở giữa

Chia bậc cầu thang để xây

IV.    KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG KHỐI XÂY
Trong quá trình làm người thợ phải thường xiên kiểm tra chất lượng của khối xây để phát hiện sai sót và sửa chữa kịp thời.
Dụng cụ kiểm tra: thước hồ, thước góc, thước đo chiều dài, nivô, quả dọi,..
1.    Kiểm tra thẳng đứng của khối xây
-    Áp thước hồ theo phương thẳng đứng vào bề mặt của khối xây, áp nivô vào thước hồ.
-    Nếu bọt nước ống thuỷ kiểm tra thẳng đứng nằm vào giữa thì tường thẳng đứng.
-    Nếu bọt nước ống thuỷ kiểm tra lệch về một phía là tường bị nghiêng.
2.    Kiểm tra độ nằm ngang của khối xây
-    Đặt thước hồ lên mặt trên khối xây, đặt nivô lên thước hồ
-    Nếu bọt nước ống thuỷ kiểm tra thẳng đứng nằn vào giữa thì khối xây ngang bằng.
-    Nếu bọt nước ống thuỷ kiểm tra lệch về một phía thì khối xây không ngang bằng.

3.    Kiểm tra phẳng mặt
Áp thước hồ vào mặt phẳng của khối xây, khe hở giữa thước và khối xây là độ gồ ghề của khối xây.
4.    Kiểm tra góc vuông
Dùng thước vuông đặt vào góc hay mặt trên của tường để kiểm tra. Góc tường vuông khi hai cạnh góc tường ăn phẳng với hai cạnh của thước.
5.    Với tường cong, trụ tròn, gờ cong dùng các dụng cụ hỗ trợ
Thước vanh, thước cong có bán kính bằng bán kính của tường, gờ để kiểm tra.
Sau khi kiểm tra có được những trị số sai lệch thực tế đem so sánh với chỉ tiêu đánh giá chất lượng khối xây góp phần vào việc đánh giá chất lượng xây dựng công trình.






BÀI 3

LÁNG–TRÁT VỮA

I.    LỚP VỮA TRÁT
1.    Tác dụng của lớp vữa trát
Với các công trình xây dựng bằng gạch, khối lượng trát là tương đối lớn, chiếm khoảng từ 1530% tổng số công tác xây dựng công trình và chiếm 7% giá thành xây dựng.
Lớp vữa trát có tác dụng làm cho công trình được sạch, đẹp, bảo vệ ngôi nhà khỏi những tác động có hại của khí quyển, góp phần làm tăng tuổi thọ của công trình nhất là các công trình bằng gạch.
2.    Cấu tạo
Lớp vữa trát thường có chiều dày từ 1520mm. Tuỳ theo tính chất, loại vữa và biện pháp thi công người ta trát thành nhiều lớp: lớp vữa lót, lớp vữa nền và lớp vữa mặt nhưng đôi khi chỉ trát hai lớp: lớp vữa lót và lớp vữa mặt.

Cấu tao lớp vữa trát
1. Lớp vữa lót; 2. lớp vữa nền; 3. lớp vữa mặt
-    Lớp vữa lót:
+    Tác dụng: tạo cho các lớp vữa sau này bám chặt vào bề mặt cần trát.
+    Độ sụt từ 812mm.
+    Chiều dày bằng 1/3 tổng chiều dày lớp vữa định trát.
-    Lớp vữa nền:
+    Tác dụng: tạo nên chiều dày cần thiết và làm phẳng bề mặt được trát.
+    Độ sụt từ  79mm.
+    Chiều dày bằng 2/3 tổng chiều dày lớp vữa định trát.
-    Lớp vữa mặt:
+    Tác dụng: làm phẳng toàn bộ bề mặt và tạo độ bóng khi xoa nhẵn.
+    Độ sụt: 1015mm.
+    Chiều dày: 23mm.
3.    Yêu cầu kĩ thuật
-    Vữa trát phải bám chắc vào bề mặt các kết cấu (cột bê tông cốt thép, dầm, trần…)công trình.
-    Loại vữa và chiều dày lớp vữa trát phải đúng yêu cầu của thiết kế.
-    Bề mặt lớp vữa trát phải phẳng, nhẵn.
-    Các cạnh, đường gờ chỉ phải sắc, thẳng, ngang bằng hay thẳng đứng.
4.    Đánh giá chất lượng lớp vữa trát
a.    Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm
Đánh giá chất lượng lớp vữa trát dựa vào một số chỉ tiêu theo bảng 5.1
Chỉ tiêu đánh giá    Độ sai lệch (mm)    
    Tốt    Khá    Đạt yêu cầu    
1.    Độ gồ ghề phát hiện bằng thước hồ 2m
-    Đối với công trình yêu cầu trát tốt.
-    Đối với công trình bình thường.
2.    Lệch bề mặt so với phương thẳng đứng
-    Đối với công trình yêu cầu trát tốt, trên toàn bộ chiều cao nhà không vượt quá.
-    Đối với công trình bình thường toàn bộ chiều cao nhà không vượt quá.
3.    Lệch so với phương ngang, phương thẳng đứng của bệ cửa sổ, cửa đi, cột trụ
-    Đối với công trình trát tốt, trên toàn bộ các cấu kiện không vượt quá.
-    Đối với công trình bình thường không vượt quá.
4.    Sai lệch gờ chỉ so với thiết kế với công trình trát tốt không vượt quá.    
1.5
2


6

8


3
3

1.5    
2
5


8

10


4
5

    
3
5


10

15


5
10

    

b.    Phương pháp kiểm tra, đánh giá
-    Kiểm tra độ bám dính và độ đặc chắc của lớp vữa trát
Gõ vào bề mặt trát nếu tiếng kêu không trong thì lớp vữa không bám chắc vào bề mặt trát.
-    Kiểm tra độ thẳng đứng
+    Dùng thước hồ, nivô.
+    Dùng dây dọi.
-    Kiểm tra độ phẳng mặt trát:
      Dùng thước hồ kết hợp với nivô để kiểm tra.
-    Kiểm tra góc vuông:
     Đặt thước vuông vào góc tường đã trát để kiểm tra.
-    Kiểm tra ngang bằng, dùng thước hồ, Nivô.
-    Sau khi đã có số liệu kiểm tra. So sánh với chỉ tiêu trong bảng 5.1. Để rút ra kết luận.

II.    LÀM MỐC TRÁT
1.    Vai trò quan trọng của mốc trát
Để bộ phận hay toàn bộ công trình sau khi trát được thẳng đứng, nằm ngang và phẳng mặt cần phải làm mốc trát trước khi trát.
Mốc có chiều dày bằng chiều dày lớp vữa định trát, thường được đắp bằng vữa.
Mốc được phân bố trên bề mặt cần trát. Khoảng cách các mốc theo phương ngang phụ thuộc vào chiều dài thước hồ để cán. Theo phương đứng là chiều cao của mỗi đợt giáo.
Theo phương song song với chiều cán thước dùng vữa nối các mốc lại với nhau, tạo thành các dải mốc.
Dải mốc là cữ để tì thước khi cán phẳng vữa giữa hai dải mốc.

Phân bố mốc trát trên mặt phẳng trát
2.    Phương pháp làm mốc trát
a. Làm mốc trên diện rộng
-    Kiểm tra tổng thể bề mặt cần trát: dùng thước hồ, nivô kiểm tra độ thẳng đứng, ngang bằng. Biết được mức độ lồi, lõm nghiêng của tường, trần là bao nhiêu từ đó quyết định chiều dày tối thiểu theo quy định.
Mốc gồm có mốc chính và mốc phụ.

Làm mốc chính
Mốc chính nằm ở vị trí bốn góc của bức tường hay trần và được làm trước. Mốc phụ nằm trên đuờng nối giữa hai mốc chính theo hai phương vuông góc với nhau.
Mốc phụ được làm sau khi có mốc chính. Số lượng mốc phụ thuộc vào diện tích định trát lớn hay nhỏ.
-    Làm mốc chính: dùng vữa đắp lên bốn góc bề mặt cần trát
Các mốc chính còn lại ở phía dưới xác định bằng cách thả dọi từ mốc một và hai xuống. Khi trát những bức tường có chiều cao nhỏ chỉ bằng chiều dài thước nên dùng thước hồ và nivô để xác định mốc chính phía dưới.
Đối với trần, chọn một góc đắp mốc chính thứ nhất. Các mốc chính còn lại được lấy thăng bằng từ mốc số một
-    Làm mốc phụ: khi khoảng cách giữa hai mốc chính theo phương vuông góc với hướng cán thước lớn hơn chiều dài hước để cán, hoặc ở vị trí tương ứng với chiều cao đợt giáo ta phải làm mốc phụ.
Như vậy mốc chính và mốc phụ tạo thành hệ thống mốc trên bề mặt cần trát.
-    Làm dải mốc: dùng vữa nối các mốc theo phương song song với chiều cán thước. Dựa vào hai mốc ở hai đầu dùng thước cán phẳng ta có dải mốc.
Chú ý
Đối với bề mặt cần trát có diện tích lớn, dải mốc chỉ làm đủ để trát trong một ca (8 giờ), tránh dải mốc bị khô phải xử  lí khi trát.
b. Làm mốc trên diện tích hẹp và dài
Các thanh có kích thước tiết diện nhỏ như chạy dài như các thanh trang trí thẳng đứng, nằm ngang, tay vịn lan can, gờ cưả sổ...
v    Kiểm tra tổng thể trước khi làm mốc
+    Kiểm tra tổng  thể của hệ thống thanh.
+    Kiểm tra độ thẳng đứng, nằm ngang của từng thanh.
+    Kiểm tra độ phẳng của từng thanh theo các cạnh.
+    Kiểm tra kích thước thực tế của mỗi thanh.
v    Làm mốc chính
+    Đối với thanh độc lập: mốc chính được làm hai đầu của thanh. Với thanh đứng mốc ở trên làm trước, ở dưới làm sau. Với thanh ngang mốc được làm ở một đầu bất kì, dựa vào mốc ở mặt đã có để làm mốc ở mặt kia.
+    Đối với một hàng hay một dãy thanh: mốc chính được làm ở hai đầu của hai thanh ngoài cùng.
v    Làm mốc phụ
+    Đối với thanh độc lập: căng dây giữa hai mốc chính ở hai đầu để làm mốc phụ khoảng cách mốc phụ lấy theo chiều dài của thước tầm.
+    Đối với một hàng hay dãy thanh: căn cứ mốc chính ở hai đầu căng dây làm mốc chính cho các thanh ở giữa. Trong mỗi thanh, căng dây để làm mốc phụ như trường hợp thanh độc lập.

III.    TRÁT VỮA
1.    Trát tường phẳng
a.    Quy trình trát tường phẳng
v    Chuẩn bị kích thước khi trát
-    Kiểm tra độ thẳng đứng của tường.
-    Kiểm tra độ phẳng của mặt tường.
-    Đục tẩy những vị trí lồi cao trên mặt tường.
-    Vệ sinh như: cạo sạch, rêu, mốc, bóc tẩy và rửa các vật liệu khác bám trên mặt tường.
v    Làm mốc
    (xem phần làm mốc trát)
v    Lên lớp vữa lót
Trong phạm vi của một ô trát có các vị trí lõm sâu, phải lên vữa vào các vị trí đó trước cho tường tương đối phẳng mới lên vữa trát cho ô đó.
Trước khi lên vữa phải tạo độ ẩm cho bức tường cần trát. Chú ý tạo ẩm cho mỗi chỗ tương đối đều nhau.
Lên vữa lót trong một ô trát theo trình tự từ trên xuống, từ góc ra. Lớp vữa lót cũng cần trát cho tương đối phẳng để lớp vữa sau được khô đều.
v    Trát lớp vữa nền
Khi lớp vữa lót khô mặt thì tiến hành trát lớp vữa nền. Lớp nền dày 812mm. Có thể dùng bay, bàn xoa để lên lớp vữa nền.
v    Trát lớp vữa mặt
Thông thường khi lớp vữa nền đã khô mặt thì trát lớp vữa mặt. Do chiều dày của lớp mặt nhỏ nên được trát với loại vữa dẻo hơn lớp vữa nền.
v    Cán phẳng
Dùng thước hồ có chiều dài lớn hơn khoảng cách giữa hai dải mốc để cán. Trước khi cán cần làm sạch và tạo ẩm cho thước để khi cán không dính thước và cán sẽ nhẹ tay.
Trong khi cán không để đầu thước lệch khỏi dải mốc, không ấn thước mạnh lên dải mốc. Khi vữa đã đầy thước cần dừng cán, đưa thước ra gạt vữa vào máng vữa.
Có thể cán nhiều lần để mặt lớp vữa phẳng với dải mốc. Cán xong một lượt cần quan sát mặt trát xem chỗ nào cạnh thước không cán qua đó là những chỗ còn lõm. Dùng bay, bàn xoa bù vữa vào những vị trí đó rồi cán lại.
v    Xoa nhẵn
-    Khi mặt vữa trát vừa khô mặt thì tiến hành xoa nhẵn.
-    Thường phải xoa làm nhiều lần, lần sau xoa nhẹ hơn lần trước cho tới khi mặt lớp vữa trát được nhẵn bóng.
-    Trát xong một ô sau đó tiến hành trát sang ô khác với trình tự, thao tác đã nêu ở trên.
Trường hợp trát bằng vữa ximăng cần lưu ý một số điểm
-    Bề mặt cần trát phải làm ẩm thật kĩ để không hút mất nước của vữa ximăng làm chất lượng của lớp vữa ximăng cát bị giảm.
-    Vữa ximăng cát có độ dẻo thấp hơn vữa tam hợp cho nên khi lên vữa phải di chuyển bay hay bàn xoa từ từ và ấn mạnh tay hơn khi lên vữa tam hợp.
-    Lên vữa đến đâu là bảo đảm ngay được độ dày tương đối của lớp vữa. Tránh trình trạng phải bù, phải phủ nhiều lần.
-    Chỉ lên vữa trong phạm vi nhỏ một. Sau đó tiến hành cán và xoa ngay đề phòng vữa trát đã bị khô, việc xử lí để xoa phẳng, nhẵn rất khó khăn.
-    Việc xoa nhẵn đuợc thực hiện trong từng phạm vi hẹp, xoa tới khi không thấy các hạt cát nổi lên là được.
b.    Những sai phạm của lớp vữa trát, nguyên nhân và biện pháp khắc phục
-    Lớp vữa trát bị rạn nứt
+    Nguyên nhân: do lớp vữa trát quá dày không trát theo từng lớp. Do trát trong điều kiện thời tiết nóng, khô hanh mà mặt trát không được làm ẩm kĩ.
+    Biện pháp khắc phục: chia thành nhiều lớp để trát, mặt trát phải ẩm đặc biệt trong điều kiện thời tiết khô hanh.
-    Lớp vữa trát bị bong dộp, tróc lở
+    Nguyên nhân: vữa trát trên bề mặt quá khô, bề mặt cần trát không làm vệ sinh sạch sẽ như rêu mốc, dầu mỡ, bám trên bề mặt.
+    Biện pháp khắc phục: làm vệ sinh thật sạch, tưới ẩm lên bề mặt cần trát.
a.    Sai phạm, nguyên nhân và biện pháp khắc phục
v    Mặt trát bị cháy
Trát trần về mùa hè nhiệt độ cao làm cho vữa trát rất nhanh khô đặc biệt là trần mái. Để khắc phục hiện tượng trên cần tưới nước ẩm mặt trần. Đối với mái chưa chống nóng có thể bơm nước ngâm từ 510cm để giảm nhiệt độ cho trần. Nếu mặt trát bị cháy dùng chổi đót nhúng nước vẩy lên rồi xoa hoặc nếu mặt trần đã phẳng nhưng chưa nhẵn dùng miếng mút có kích thước 200x100x100mm nhúng nước xoa đều.
v    Mặt trát bị ướt và rơi khỏi trần
Do trần bị lõm, trát quá dày hoặc trần quá nhẵn lại không chú ý xử lí trước khi trát. Trước khi trát phải kiểm tra xử lí mặt trát trước những chỗ lõm bằng vữa ximăng mác cao hoặc tạo nhám cho trần.
v    Mặt trát chỗ ướt chỗ khô
Do trần không phẳng lồi, lõm lớp trát chỗ dày chỗ mỏng dẫn đến khô không đều. Vì vậy ngay từ khi chuẩn bị phải xử lí mặt trần tương đối phẳng, lồi thì đục bỏ và lõm thì đắp vào bằng vữa ximăng.
v    Mặt trần bị bong dộp
Sau khi xoa nhẵn xong vữa trát bị rơi ra. Hiện tượng trên chứng tỏ mặt trát đã bị bong khỏi trần trong quá trình trát hoặc do trần còn bẩn trướt khi trát. Để giảm bớt và giải quyết hiện tượng trên, trong khi trát lót nên dùng vữa theo thiết kế và ấn mạnh tay để vữa bám chắc vào trần, làm sạch trần trước khi trát.
IV.    LÁNG NỀN, SÀN
1.    Cấu tạo nền, sàn

Cấu tạo nền
1. Vữa láng nền;  2. Bê tông gạch vỡ hay đá 4x6;  3. Cát san nền;  4. Đất tự nhiên
Cấu tạo của nền, sàn chia ra: láng trên nền bê tông gạch vỡ, bê tông, bê tông cốt thép …
Cấu tạo chung gồm: lớp vữa đệm, lớp láng mặt .
Lớp vữa láng thường có chiều dày 23cm, vữa láng thường dùng vữa ximăng cát vàng mác 75100.

Cấu tạo sàn
1. Vữa láng nền;  2. Bê tông sàn;  3. Vữa trát trần

2.    Yêu cầu kĩ thuật
-    Mặt láng phải phẳng, đảm bảo độ dốc thiết kế.
-    Lớp láng phải đảm bảo chiều dày và mác vữa.
-    Lớp láng phải đảm bảo chắc vào nền sàn.
3.    Trình tự thao tác
a.    Chuẩn bị xử lí nền, sàn
v    Kiểm tra lại cao độ mặt nền, sàn:
Căn cứ vào cao độ chuẩn của mặt láng đã xác định theo thiết kế, dẫn vào xung quanh tường hoặc mốc khu vực láng những vạch mốc trung gian cao hơn mốc hoàn thiện từ 2530cm.
Dựa vào mốc trung gian kiểm tra cao độ mặt nền, sàn. Nếu láng rộng cần phải chia ô và kiểm tra cao độ theo các ô.
v    Xử lí nền, sàn
-    Đối với nền bê tông gạch vỡ (xà bần) chỗ cao đục bớt, chỗ thấp ít láng thêm lớp vữa ximăng cát vàng mác 50, chỗ trũng quá đổ thêm lớp bê tông cùng loại với lớp vữa trước.
-    Đối với nền, sàn bê tông, bê tông cốt thép chỗ thấp ít dùng vữa ximăng mác cao để làm phẳng, chỗ cao quá phải đục bớt hoặc nâng cao độ của nền nhưng không gây ảnh hưởng khi sử dụng các thiết bị khác.
v    Vệ sinh mặt láng và tưới ẩm cho nền, sàn
a.    Làm mốc
-    Dùng thước đo từ vạch mốc chuẩn xuống tới mặt láng một khoảng bằng khoảng cách giữa mốc chuẩn đến mốc hoàn thiện (khoảng 2530cm). Trường hợp mặt láng phải có độ dốc thoát nước thì ở phía thấp của mặt láng đo từ cao độ trung gian xuống một đoạn lớn hơn 2530cm.
-    Đắp mốc ở bốn khu vực cần láng, kích thước mốc 10x10cm.
-    Khi khoảng cách giữa các mốc chính lớn quá chiều dài thước thì phải căng dây đắp thêm các mốc phụ cho phù hợp với thước dài để cán.
-    Rải vữa nối liền các mốc và cán phẳng theo mốc thành dải mốc rộng 10cm, chiều dài dải mốc chạy theo hướng láng vữa.
b.    Láng vữa
-    Khi dải mốc khô mặt, đổ vữa vào khoảng giữa hai dải mốc hướng từ trong ra cửa, dàn vữa đều trên mặt láng, cao hơn mặt mốc 23mm.
-    Dùng bàn xoa đập cho vữa đặc chắc và bám vào nền, sàn.
-    Dùng thước cán sao cho mặt láng phẳng với dải mốc.
-    Dùng bàn xoa phẳng. Lúc đầu xoa nặng tay, rộng vòng để vữa dàn đều, sau đó xoa nhẹ tay và hẹp vòng để vữa phẳng nhẵn, xoa từ trong giật lùi ra phía cửa. Khi xoa chỗ nào thiếu bù vữa vào xoa luôn. Những chỗ tiếp giáp với chân tường phải xoa dọc để phần nền tiếp giáp với tường  thẳng.
Chú ý
-    Đối với mặt láng không đánh màu dùng bay liết đều, nhẹ tay trên mặt vữa để các hạt cát chìm xuống tạo mặt láng được mịn và chắc mặt.
-    Đối với mặt láng lát granitô, đá rửa...Tạo cho mặt láng nhám bằng cách vạch quả trám, hình chữ nhật để tăng độ bám dính của vữa với mặt láng.
-    Trường hợp mặt láng rộng không thể thi công liên tục thì phải ngừng thì mạch ngừng theo hình răng cưa gọn chân để chống co ngót khi láng tiếp, trước khi láng tiếp phải tưới nước ximăng chỗ tiếp giáp.


+    Đánh màu
Đánh màu là dùng ximăng nguyên chất hoặc ximăng pha với bột màu phủ lên mặt láng một lớp mỏng sau đó dùng bàn xoa thép hoặc bay miết lại cho mặt láng nhẵn bóng.
Tác dụng của đánh màu là chống thấm và trang trí bề mặt láng.
+    Kẻ mạch
-    Kẻ mạch là hình thức làm giả gạch, giả đá lát nền. Thường kẽ theo lưới hình ô vuông hoặc quả trám làm cho đẹp mặt láng.
-    Khi mặt láng được xoa nhẵn vữa se thì tiến hành kẻ mạch.
-    Nếu mặt nền quá khô thì kẻ mạch khó và đường mạch không nhẵn, nếu nền ướt mạch khó đều.
-    Trước khi kẻ mạch phải
+    Kiểm tra vuông góc của nền, sàn.
+    Đo kích thước các cạnh.
+    Dùng thước cữ vạch dấu lên nền, sàn.
+    Căng dây theo vạch dấu, áp thước theo dây để kẻ mạch.
+    Có thể kẻ mạch bằng dây thép.
Lăn gai:
Dùng quả lăn tròn đường kính từ 68cm dài khoảng 25cm có gai để tạo gai.
Khi mặt láng thô hoặc đánh mặt vừa se thì tiến hành lăn gai. Nhúng nước quả lăn, căn cứ vào đường chân tường áp thước để lăn đường đầu tiên. Một tay giữ thước một tay đẩy lăn, dựa vào đường lăn trước, áp thước để làm đường tiếp theo.
c.    Bảo dưỡng và bảo vệ mặt láng
-    Bảo dưỡng: là khâu quan trọng giúp cho lớp vữa láng phát triển cường độ được bình thường, làm tăng chất lượng mặt láng. Mặt láng luôn giữ  ẩm trong thời gian từ  710 ngày
-    Bảo vệ: trong thời gian bảo dưỡng không được va chạm mạnh, không làm rơi vật nặng và những vật sắc nhọn lên mặt láng.
BÀI 4

ỐP - LÁT GẠCH

I.    YÊU CẦU KĨ THUẬT VÀ CÔNG TÁC CHUẨN BỊ LÁT
1.    Yêu cầu chung của mặt lát
-    Mặt lát đúng cao độ, độ dốc (nếu có) và độ phẳng. Nếu mặt lát là gạch hoa trang trí thì phải đúng hình, đúng màu sắc thiết kế. Viên lát dính kết tốt với nền không bị bong dộp
-    Mạch thẳng, đều được chèn đầy bằng vữa ximăng cát hay hồ ximăng lỏng.

        Cấu tạo nền                                    Cấu tạo sàn
1. Gạch lát nền                                1. Gạch lát nền
2. Vữa gắng kết mác                                 2. Vữa dính kết
3. Vữa láng nền                                 3. Vữa lót nền mac 75
4. Bê tông nền đá 4x6cm                            4. Bê tông cốt thép
5. Cát nâng nền tưới nước đầm kĩ                        5. Vữa trát trần
6. Đất tự nhiên

2.    Xác định cao độ (cốt) mặt lát
-    Căn cứ vào cao độ thiết kế (còn gọi là cốt hoàn thiện) của mặt lát, dùng ống cân nước dẫn vào xung quanh khu vực cần lát, những vạch mốc trung gian cao hơn cốt hoàn thiện một khoảng từ 20 đến 30cm. Dẫn cốt trung gian vào bốn góc phòng, sau đó phát triển ra xung quanh tường.
-    Dựa vào cốt trung gian đo xuống một khoảng 2030cm sẽ xác định được cốt mặt lát (cốt hoàn thiện).
3.    Xử lí mặt nền
a.    Kiểm tra cốt mặt nền
Dựa vào cốt trung gian đã vạch ở xung quanh tường khu vực cần lát đo xuống phía dưới để kiểm tra cốt mặt nền.
b.    Xử lí mặt nền
-    Đối với nền đất hoặc cát: chỗ cao phải đục bớt, chỗ thấp đổ cát tưới nước đầm kĩ.
-    Nền bê tông gạch vỡ: nếu nền thấp nhiều so với cốt quy định thì phải đổ thêm một lớp bê tông gạch vỡ cùng mác với lớp vữa trước.
-    Nếu nền thấp hơn so với cốt quy định 23cm. Thì tưới nước sau đó láng thêm một lớp vữa ximăng cát mác 50. Nếu nền cao hơn phải đục hết những chỗ cao, cạo sạch vữa và tưới nước sau đó láng thêm một lớp vữa ximăng cát mác 50.
-    Nền, sàn bê tông, bê tông cốt thép: nếu nền thấp hơn so với cốt quy định, tưới nước rồi láng thêm một lớp vữa ximăng cát vàng mác 50. Nếu nền thấp phải đổ thêm một lớp bê tông đá mác 100. Nếu nền cao hơn cốt quy định phải hỏi ý kiến cán bộ kĩ thuật
II.    LÁT MỘT SỐ GẠCH THÔNG DỤNG
1. Lát gạch gốm tráng men
a.    Vật liệu
-    Gạch gốm tráng men được sản xuất dưới dạng tấm mỏng có kích thước phổ biến 300x300x8mm, 400x400x8mm, 500x500x8mm.
-    Gạch làm từ đất sét nung tráng men, gốm ceramic tráng men hoặc gốm granít nhân tạo. Đặc trưng cơ bản của công nghệ sản xuất gốm Granit là sản phẩm được nung ở nhiệt độ cao từ 1220012280C trong thời gian 6070 phút từ các nguyên liệu chính là đất sét, cao lanh phenspat.
-    Độ hút nươc của loại gạch này ít hơn so với gạch lá nem, gạch chỉ.
-    Chất lượng gạch: gạch chất lượng tốt là những viên gạch không cong vênh, men gạch không bị rạn nứt, không sứt góc cạnh, kích thước các viên gạch phải đều nhau.
b.    Đặc điểm và phạm vi sử dụng
v    Đặc điểm
-    Gạch gốm tráng men thuộc loại viên mỏng, rộng không chịu được những va đập mạnh.
-    Nền lát gạch này phải ổn định, mặt nền phải phẳng, cứng. Vữa dính kết phết mỏng và đều, mác vữa phải cao. Khi lát đặt nhẹ như dán, tránh gõ điều chỉnh nhiều viên gạch dễ bị nứt, mạch bị đầy do vữa bị phình lên
v    Phạm vi sử dụng
Gạch gốm tráng men, gốm ceramic, gốm granit, ceramíc tráng men dùng lát nền những công trình kiến trúc có yêu cầu kĩ, mĩ thuật cao. Đặt biệt là những công trình có yêu cầu về vệ sinh như  bệnh viện, phòng thí nghiệm hoá chất và một số công trình văn hoá khác.
c.    Cấu tạo và yêu cầu kĩ thuật
v    Cấu  tạo
-    Gạch gốm tráng men thường lát trên nền cứng như nền bê tông gạch vỡ, bê tông cốt thép, bê tông. Viên lát được gắn lớp vữa mác cao.
-    Nền được tạo phẳng trước khi lát bằng lớp vữa mác 50. Chờ lớp vữa khô mới tiến hành lát.

v    Yêu cầu kĩ thuật
-    Mặt lát:
+    Mặt lát dính két tốt với nền, tiếp xúc với viên lát, khi gõ có tiếng bộp
+    Mặt lát phẳng, ngang bằng hoặc có độ dốc theo thiết kế
+    Gạch đồng màu hoặc cùng loại hoa văn
-    Mạch: thẳng, đều không lớn quá 2mm
d.    Kĩ thuật lát
v    Chuẩn bị vật liệu, dụng cụ
-    Gạch lát:
Gạch sản xuất ra được đựng thành hộp, có ghi rõ kích thước màu gạch sêri lô hàng. Vì vậy chú ý chọn những hộp gạch có cùng sêri sản xuất có kích thước gạch và màu đồng đều nhau
Nếu gặp viên mẻ góc, cong vênh hoặc sai lệch kích thước thì phải loại bỏ
-    Vữa
+    Phải dẻo, nhuyễn đảm bảo đúng yêu cầu của thiết kế
+    Không lẫn sỏi sạn
+    Lát đến đâu trộn vữa đến đó
-    Dụng cụ
+    Bay
+    Thước hồ
+    Nivô
+    Máy cắt gạch
+    Búa cao su
+    Miếng cao su mỏng
+    Chổi đót
+    Dây
v    Phương pháp lát
Gạch gốm tráng men thuộc loại viên mỏng, thường lát không có mạch. Phương pháp tiến hành như sau:
-    Láng một lớp vữa tạo phẳng
+    Vữa ximăng cát tối thiểu từ mác 50 dày 2025mm. Chờ vữa khô sau đó tiến hành lát.
+    Kiểm tra vuông góc của phòng.
+    Xếp ếm thử và điều chỉnh hàng gạch theo chu vi phòng. Hàng gạch phải thẳng, khít nhau, ngang bằng, phẳng mặt khớp hoa văn và màu sắc.
     

1, 2, 3, 4 viên gạch mốc
+    Phết vữa lát định vị bốn viên góc làm mốc và căng dây lát hai hàng cầu song song với hướng lát.
    

-    Căng dây lát hàng gạch nối giữa hai hàng gạch.
Dùng bay phết vữa trên bề mặt khoảng 35 viên liền (bắt đầu từ góc trong cùng) đặt gạch theo dây. Gõ nhẹ bằng búa cao su điều chỉnh viên gạch cho đúng hàng, ngang bằng.
Cứ lát khoảng 34 viên gạch dùng nivô kiểm tra độ ngang bằng của diện tích lát một lần; dùng tay xoa nhẹ giữa hai mép gạch có phẳng mặt với nhau không. Lát đến đâu lau sạch mặt lát đến đó.

-    Lau mạch
Đổ vữa ximăng lỏng tràn khắp mặt lát. Dùng miếng cao su mỏng gạt cho ximăng tràn đầy khe mạch.
Rải một lớp cát khô hay mùn cưa khắp mặt nền để hút khô hồ ximăng còn lại.
Quét sạch mùn cưa hay cát, dùng giẻ lau khô lau nhiều lần cho sạch hồ ximăng còn dính trên mặt gạch.
-    Cắt gạch
Khi lát gạch gặp trường hợp bố trí viên gạch bị lỡ cho nên phải cắt gạch và bố trí viên gạch cắt ở sát phía tường phía bên trong.
e.    Những sai phạm và cách khắc phục
-    Viên lát bị bong dộp
Nguyên nhân: do rải vữa không đều viên gạch rải vữa không kín khắp.
-    Viên lát bị nứt vỡ
Nguyên nhân: vữa bị khô, dàn vữa không phẳng, chỗ vữa dày không lấy bớt ra trước khi đặt, viên lát bị nhấp nhô gõ điều chỉnh nhiều làm viên gạch bị nứt vỡ.
-    Mặt lát không phẳng, mạch không thẳng.
Nguyên nhân: do chọn gạch không kĩ những viên có kích thước không đều nên khi lát mạch không thẳng; những viên gạch bị cong vênh làm cho mặt lát không phẳng, phải điều chỉnh nhiều lần.


v    Cách khắc phục
-    Rải vữa cho thật đều, phẳng đặt viên gạch đều tay tiếp xúc với mặt nền, gõ nhẹ như dán gạch. Khi đặt gạch chỉ đặt một lần là được,tránh phải điều chỉnh tốn thời gian đảm bảo năng suất lao động.
-    Chọn gạch kĩ, loại bỏ những viên cong vênh, những viên cùng kích thước lát vào cùng một hàng.
-    Những viên gạch bị bong dộp, phải gỡ lên cạo sạch vữa cũ rải vữa mới lát lại.
III.    ỐP GẠCH
1.    Vật liệu
a.    Tác dụng
-    Ốp gạch để trang trí làm tăng mĩ quan của công trình và để đảm bảo vệ sinh (như bệnh viện, phòng thí nghiệm, bếp, phòng tắm, vệ sinh…)

1. Lớp vữa lót tạo phẳng; 2. Lớp vữa gắn kết; 3. Gạch ốp
    Các loại gạch ốp
-    Gạch Ceramic tráng men kích thước 100x100x4mm, 150x150x4mm, 150x200x4mm…Chủ yếu là màu trắng.
-    Gạch gốm tráng men có kích thước đa dạng, phổ biến là: 240x60x4mm, 200x200x4mm, 200x150x4mm, 300x300x4mm màu sắc rất phong phú.
-    Gạch đất sét nung có kích thước 220x60x50mm có màu đỏ tươi.
b.    Chất lượng
Gạch ốp chất lượng tốt có men bóng, trắng hoặc màu đều không bị rạn mặt,  không bị cong vênh khi gõ có tiếng kêu thanh.


2.    Đặc điểm và phạm vi sử dụng
a.    Đặc điểm
-    Gạch ốp là loại viên mỏng, cường độ không cao, mềm không chịu được những va chạm mạnh. Khi ốp phải thao tác nhẹ nhàng.
-    Bề mặt gạch nhẵn bóng, đa số không bị axit ăn mòn, màu sắc đa dạng đảm bảo kĩ, mỹ thuật cao.
b.    Phạm vi sử dụng
Gạch ốp để trang trí mặt đứng công trình kiến trúc, những phòng thí nghiệm, sản xuất hoá chất, bệnh viện…
2    Cấu tạo và yêu cầu kỹ thuật
a.    Cấu tạo
    Mặt ốp gồm những lớp sau:
1.    Lớp vữa lót tạo phẳng bằng vữa ximăng cát vàng mác 70 100 dày 10 15mm.
2.    Lớp vữa gắn: thường dùng vữa ximăng cát vàng mác 100150 dày 35mm.
3.    Gạch ốp thường ốp dạng mạch ô cờ, mạch so le.
b.    Yêu cầu kỹ thuật
-    Mặt phải ốp phẳng, màu sắc tuân theo thiết kế.
-    Mạch thẳng, đều.
-    Vữa dính kết tốt không bị bong dộp.
4.    Kỹ thuật ốp gạch.
a.    Chuẩn bị vật liệu, dụng cụ
-    Gạch ốp
+    Chọn những hộp có cùng sêri sản xuất là tốt  nhất gạch sẽ đồng màu có cùng kích thước.
+    Loại bỏ những viên cong vênh, sức mẻ cạnh góc.
+    Nhúng nước để giữ độ ẩm khi ốp.
-    Vữa:
+    Phải dẻo đúng mác thiết kế, không lẫn sỏi sạn.
+    Ốp gạch đến đâu trộn vữa đến đó.

-    Dụng cụ:
+    Bay .
+    Thước hồ.
+    Nẹp gỗ.
+    Nivô.
+    Máy cắt gạch.
+    Búa cao su.
+    Chổt quét.
+    Dây .
c.    Kỹ thuật ốp gạch không có mạch
-    Kiểm tra lại mặt ốp về độ phẳng, độ thẳng đứng nếu không đạt phải sửa lại bằng ximăng cát vàng.
-    Dùng nivô kẻ mặt đường nằm ngang ở chân tường, cách nền bằng chiều rộng viên gạch (ốp từ trên xuống) đóng đinh tạm trên một lati theo đường này hoặc kẻ đường nằm ngang theo mép  trên cùng của hàng ốp (ốp từ trên xuống đối với gạch có kích thước nhỏ).
-    Dùng dây dọi, vạch một đường thẳng đứng ở tung tâm mặt ốp (ốp đối xứng) hay ở một cạnh của mặt ốp. Căn cứ vào đường thẳng đứng và đường nằm ngang xếp gạch ướm thử để xác định viên mốc số 1 và 2 cũng có thể dùng phương pháp đo và dựa vào kích thước viên gạch ốp để tính ra viên mốc.
-    Xác định chính xác viên mốc số 1 và 2, phết vữa vào mặt sau của mốc số 1 và 2 đưa vào vị trí dùng búa cao su gõ điều chỉnh dùng nivô kiểm tra độ thẳng đứng của viên mốc.
-    Căn cứ vào viên số 1 và 2 xác định độ thẳng đứng, căng dây ốp hàng đầu.
-    Dùng bay phết vữa ximăng lên mặt ốp hàng cầu một tay cầm viên gạch dán lên mặt vữa tay kia cầm búa cao su gõ nhẹ đều chỉnh viên gạch cho thẳng mạch và cho thẳng mạch và thẳng theo dây.
-    Dùng thước ốp lên mặt hàng cầu để kiểm tra độ phẳng.
-    Ốp xong hàng cầu thì căng dây theo hai hàng cầu hai bên để ốp hàng phía trong. Hai cạnh của viên ốp sau phải ăn theo dây căng.
-    Lau mạch: dùng hồ ximăng trắng phết lên các mạch để hồ ximăng lấp đầy các mạch, sau đó lau sạch mặt ốp.

-    Cắt gạch để ốp những viên bị lỡ:
+    Đo vị trí trống.
+    Vạch lên viên gạch cần cắt.
+    Dùng máy để cắt gạch.
+    Mài mép viên gạch cho nhẵn.
+    Phết vữa và ép viên gạch vào khoảng trống.
d.    Kĩ thuật ốp gạch không có mạch
-    Thường sử dụng trang trí ở những mảng tường, cột để làm tăng vẻ đẹp công trình xây dựng.
-    Vật liệu: dùng gạch đất sét nung ngoài ra còn sử dụng gạch đất sét nung tráng men.
-    Cấu tạo các lóp vật liệu của mặt ốp có mạch giống như mặt ốp không có mạch.
-    Cải mạch và gia công mạch vữa cho mặt ốp là loại việc chính.
+    Có nhiều hình thức cải mạch tuỳ theo yêu cầu của thiết kế.
+    Mạch lồi, lõm hoặc phẳng mặt tuỳ thuộc vào người sử dụng.
-    Yêu cầu kĩ thuật: mạch vữa phải thẳng, đều nhau độ rộng và độ sâu.
-    Chuẩn bị vật liệu, dụng cụ: giống như  ốp gạch không có mạch.
-    Phương pháp ốp: cơ bản giống như ốp gạch không có mạch có một số đặc điểm khác nhau như sau
-    Mỗi hàng gạch dùng một lati làm cữ có kích thước tiết diện bằng kích thước tiết diện bằng kích thước mạch vữa. Sau khi dán xong một hàng nhấc lati đó ra vào chuyển sang hàng khác.
-    Vét mạch: sau khi dán xong mảng tường, dùng vữa ximăng cát mịn chèn mạch dùng dao cắt mạch tuỳ theo ý đồ thiết kế.
Những sai phạm và biện pháp khắc phục
-    Mặt ốp không phẳng có hiện tượng kênh vênh một hoặc hai góc viên gạch kênh cao hơn viên gạch bên cạnh từ ½mm đến vài mm. Hiện tượng này làm cho mạch rộng, mặt ốp nhấp nhô.
Nguyên nhân
Do phết vữa không đều chỗ dày chỗ mỏng hoặc vữa bị nhão quá bị chảy sệ sau khi dán.
Biện pháp khắc phục:
-    Mạch vữa không đều chỗ rộng chỗ hẹp
Nguyên nhân: khi ốp không có nẹp cữ hoặc do vữa nhão làm cho mặt ốp bị chảy sệ sau khi dán.
-    Mặt ốp bị bong hoặc gõ có tiếng kêu bộp.
Nguyên nhân: do vữa khô qúa hoặc mặt ốp và gạch không tưới nước ẩm trước khi ốp, độ bám dính của viên gạch sẽ bị giảm đi, dễ bị bong.
-    Phết vữa không đều, viên gạch tiếp xúc với vữa không kín khắp tạo nên những chỗ rỗng, vì vậy khi gõ có tiếng bộp. Tháo viên gạch đó cạo sạch vữa cũ phết vữa mới và dán lại.

IV.    ỐP ĐÁ TẤM
1.    Vật liệu
-    Mặt tường thường ốp bằng đá granit, đá hoa trắng.
-    Hiện nay sử dụng nhiều loại đá granít nhân tạo để ốp tường các công trình dân dụng và công  nghiệp.
-    Kích thức viên ốp rất đa dạng phổ biến những loại 300x300x10, 400x600x20, 600x1200x20… Các loại dày 30, 40, 50mm.
-    Đá ốp có độ đặc chắc và độ cứng hơn gạch, độ hút nước ít.
-    Viên ốp có chất lượng tốt: kích thước đều nhau, không sứt mẻ cạnh góc, cạnh, cùng màu, cùng dạng vân không bị khuyết tật do đá bị phong hoá biến chất.
2.    Đặc điểm và phạm vi sử dụng
-    Đá có độ bền cao, vân tự nhiên đẹp, màu sắc đa dạng có thề đánh bóng đạt yêu cầu mong muốn. Do vậy nó đước dùng để ốp trang trí ở mặt ngoài công trình có yêu cầu thẩm mĩ cao.
-    Tuy vậy đá tự nhiên dưới tác dụng của mưa, nắng, nhiệt độ thay đổi thất thường, bị co ngót nứt tách theo vân đá, nước mưa vào phong hoá bề mặt, làm giảm mĩ quan công trình.
3.    Cấu tạo và yêu cầu kĩ thuật
a.    Cấu tạo
Cấu tạo mạch ốp tường thường tiến hành theo một số cách:
-    Mạch ốp ô cờ
-    Mạch ngang thẳng, song song và cách đều nhau mạch đứng so le nhau.
Cấu tạo mặt ốp
-    Ốp những tấm mỏng 610mm chỉ cần dùng vữa ximăng cát mác >50 để dính kết viên ốp vào tường, không dùng móc sắt để liên kết.
-    Ốp những tấm dày từ 20mm trở lên đều phải có móc liên kết vào tường.
b.    Yêu cầu kĩ thuật
-    Độ nghiêng của mặt ốp theo phương thẳng đứng không được quá 2mm trên 1m dài và không quá 5mm trên  toàn chiều cao mặt ốp.
-    Độ lệch mặt ốp ngang và đứng không được quá 1.5mm trên 1m dài và không quá 5mm  trên toàn chiều dài mặt ốp.
-    Mép các tấm ốp kề nhau không được nhô cao, chênh lệch không quá 1mm. nếu  nhô cao, chênh lệch từ 13mm thì phải mài đoạn nhô cao rồi đánh bóng. Nếu như cao quá 5mm thì phải thay tấm ốp khác.
-    Chiều rộng mạch ốp quy định theo độ bóng của mặt đá.
-     Độ bóng và mượt: mạch rộng .51mm
-    Độ bóng gọt, dẻo: mạch rộng 102mm
-    Vữa đổ vào phần rỗng giữa lưng đá và mặt tường là vữa ximăng cát mác 50 trở lên.
4.    Kĩ thuật ốp đá (Đá granit nhân tạo và tự nhiên )
a.    Chuẩn bị dụng cụ, vật liệu
-    Dụng cụ
+    Máy cắt, khoan, máy mài đá.
+    Máy khoan bê tông.
+    Búa cơ khí.
+    Nivô, thước tầm, dây, quả dọi.
-    Vật liệu
+    Đá ốp theo củng loại, thiết kế đã khoan sẵn ở cạnh trên và cạnh dưới.
+    Bulông.
+    Móc thép bản.
+    Chốt thép không gỉ.
+    Keo gắn kết nhanh.
+    Vữa ximăng cát.
b.    Kĩ thuật ốp
-    Kiểm tra độ phẳng, độ thẳng đứng của tường, nếu tường nghiêng qúa 5mm trên toàn chiều cao mặt ốp thì phải báo cáo để có biện pháp xử lí.
-    Dùng nivô thước tầm vạch một đường thẳng nằm ngang ở chân tường cách nền một khoảng 30mm rồi đóng đinh tạm nẹp gỗ theo đường này.
-    Dùng dây dọi, vạch một đường thẳng đứng ở tâm mặt ốp.
-    Ốp hàng chân tường
-    Khoan tường để bắt bu lông định vị hai móc đỡ ở mép dưới của viên ốp. Móc thép cố định vào tường nhờ bu lông, liên kết với tấm ốp nhờ chốt trụ kim loại.
-    Phải điều chỉnh cho tấm ốp thật ngang bằng, thẳng đứng, mạch ngang ăn theo dây mới được cố định bu lông vào móc đỡ.
-    Tiếp tục làm như thế cho các tấm ốp khác trong hàng.
-    Bơm keo đông cứng nhanh vào mạch ốp, phải dùng giẻ để lau mạch ốp ngang, không để keo dính ra mặt ốp.

5.    Những sai phạm và cách khắc phục
-    Mặt ốp bị nghiêng do quá trình ốp không kiểm tra thường xuyên bằng dây dọi. Nếu trường hợp nghiêng quá 5mm thì phải tháo ra ốp lại.
-    Mặt ốp không phẳng, mép cạnh các mặt ốp thường bị khấp khểnh. Nếu nhô cao chênh không quá 3mm dùng máy mài, mài phần nhô cao rồi đánh bóng. Nếu nhô cao quá 5mm phải tháo ra ốp lại.
BÀI 5

HOÀN THIỆN–LẮP ĐẶT THIẾT BỊ VỆ SINH

I.    HOÀN THIỆN CÔNG TRÌNH
1.    Chọn màu
a.    Các loại màu cơ bản
Màu gốc: trong tự nhiên có ba màu đó là
Đỏ, vàng, xanh mà không thể dùng cách pha trộn màu sắc để có được. Đó chính là ba màu nguyên chất hay màu sơ cấp với ba màu này chúng ta có thể pha được hầu hết các màu nhìn thấy trong tự  nhiên.
Đỏ + xanh = tím.
Xanh + vàng = lục.
Vàng + đỏ = da cam.
b.    Tính chất của màu sắc
Do tác động của ánh sáng màu sắc của mọi vật biến hoá vô cùng phong phú, chúng gây ra cảm giác nóng hay lạnh. Do vậy ta gọi là màu nóng hay lạnh.
v    Màu nóng
Là những màu gây cho ta cảm giác nóng nực hay ấm áp, về mặt tình cảm gợi cho ta sự vui tươi sôi nổi và có tác dụng tăng ánh sáng trên vật thể.
Màu nóng bao gồm
Đỏ, da cam, vàng và những màu nào có xu hướng ngả sang ba màu nói trên đều gọi là màu nóng.
v    Màu lạnh
Là màu gây cho ta cảm giác lạnh lẽo hay mát mẻ về mặt tình cảm thường gợi cho ta trầm ngâm hay buồn bã và có tác dụng làm giảm ánh sáng trên vật. Màu lạnh bao gồm: xanh lục tím và những màu nào có chiều hướng ngả sang ba màu trên thuộc về màu  lạnh.
v    Màu trung tính
Những màu không gây cảm giác nóng hay lạnh là màu trung tính. Trong đó trắng và đen là hai màu trung tính.
Tóm lại: màu trung tính là loại màu dễ biến thành màu nóng hay lạnh khi ta thêm vào đó một  ít đỏ hoặc xanh.
c.    Ảo  giác về màu sắc
Màu nóng gây cảm giác vật gần lại ta, ngược lại màu lạnh làm cho vật như bị lùi lại. Đó chính là những ảo giác của các sắc nóng lạnh. Những ảo giác nêu trên còn phụ thuộc vào vị trí để tiếp nhận ánh sáng nếu ánh sáng ngược chiều và mạnh ta cũng khó phân biệt được màu nóng hay màu lạnh.
d.    Những quy luật của hoà sắc
v    Hoà  sắc cùng sắc
Hoà sắc cùng sắc là cách dùng màu để trang trí nột thất với những sắc độ khác  nhau. Hoà sắc cùng sắc tạo cảm giác êm dịu, dễ chịu vì luôn có một màu chủ đạo. Tuy vậy cách hoà sắc này có nhược điểm là không gian bị buồn tẻ nghèo nàn.
v    Hoà sắc bổ túc
Trong tự nhiên có ba màu: đỏ xanh vàng. Cứ hai màu gốc cộng lại với nhau ta được một màu mới thứ ba; màu mới này chính là màu bổ túc.
Cụ  thể
+    Đỏ có màu bổ túc là xanh lá cây (xanh + vàng)
+    Vàng có màu bổ túc là tím (xanh + đỏ)
+    Xa nh có màu bổ túc là da cam (đỏ + vàng)
Hoặc ngược lại
+    Xanh cây có màu bổ túc là đỏ
+    Tím có màu bổ túc  là vàng
+    Da cam có màu bổ túc là xanh
Đó là những cặp màu bổ túc cho nhau, có tính chất tôn lẫn nhau, vừa hứng màu vừa tươi hơn trước khi đặt cạnh nhau. Hoà sắc bổ túc có tác dụng gây cảm xúc mạnh mẽ và cái đẹp tươi sáng nhưng kín đáo, tế nhị.
v    Hoà sắc tương phản
Ngoài hai lối hoà sắc nói trên, người ta còn áp dụng lối đặt những màu chống lại nhau ở ngay cạnh nhau nên dễ gây ra cảm giác mạnh, lối hoà sắc này thường áp dụng trang trí phòng triển lãm, rạp xiếc ….
Những quy luật của màu sắc nêu trên là những phương pháp cơ bản và phổ biến nhất trong việc tìm hoà sắc. Đặt được những màu bên cạnh nhau, tạo ra những hoà sắc êm dịu, tươi mát hay mạnh mẽ, hùng tráng.
e.    Chọn màu đối với nhà ở
v    Tiền phòng
Tuy là phòng phụ, nhưng đập vào mắt ta khi bước vào căn hộ. Nên có màu sắc mát dịu.
v    Phòng sinh hoạt chung
Là phòng chính của căn hộ. Cần có mảng, vệt trang trí tươi sáng. Trong các chi tiết của nội thất.
v    Phòng làm việc
Nên dùng màu thẫm sâu  lắng để tạo không khí tập trung, bình tĩnh và hạn chế tầm nhìn.
v    Phòng ngủ
Có thể chọn màu tươi sáng hơn, còn sử dụng gam nóng hay lạnh thì phụ thuộc vào hướng phòng. Phòng ít ánh sáng mặt trời nên dùng màu vàng hay da cam, còn nếu nhiều ánh sáng thì dùng gam màu xanh da trời hay lá cây.
v    Phòng  trẻ em
Dùng màu tươi sáng, nền nhà cũng phải có màu sáng.
v    Bếp
Thường kết hợp làm phòng ăn. Vì vậy cũng chú ý tới màu sắc. Màu sắc ở đây chủ yếu là các trang thiết bị trong bếp.
v    Nhà  tắm và khu vệ sinh
Nên có màu sắc êm dịu. Trang bị các đồ sứ màu trắng hợp với màu của các thiết bị vệ sinh hoặc một gam màu xanh da trời hay màu ô liu đều thoã mãn yêu cầu vệ sinh.
2.    Pha chế nước vôi màu
a.    Vật liệu
Vật liệu để pha chế nước vôi màu gồm vôi nhuyễn, nước, màu và phèn chua.
-    Vôi nhuyễn phải tốt, trắng và óng mượt.
-    Vôi cũ để tôi phải chín đều, không cháy và không lẫn than xỉ. Vôi được tôi trước ở trong bể và luôn ngập ít nước ít nhất 20cm.
-    Nước tôi vôi và pha chế nước vôi phải sạch không lẫn tạp chất.
-    Màu: Sử dụng bột hay nước, nhưng phải hoà tan trong nước vôi.
-    Phèn chua có tác dụng: giữ cho màu lâu phai, bề mặt quét vôi mau khô và hạn chế được mốc rêu.
b.    Pha chế nước vôi
v    Tỉ lệ pha chế
-    Phụ thuộc vào chất lượng vôi nhuyễn.
-    Thường pha chế vào tỉ lệ: vôi nhuyễn/nước: 1/5.
-    Không nên pha đặc quá hay loãng quá.
v    Trình tự pha chế
-    Đong vôi nhuyễn và nước đỗ vào thùng, khuấy kĩ  thành vôi sữa.
-    Đập nhỏ phèn chua cho vào khuấy kĩ. Một lít nước vôi cho khoảng 2g phèn chua.
-    Lọc sữa vôi qua 23 lớp vải xô (hoặc lưới có mắt 0.5x0.5mm)
c.    Pha chế nước vôi màu
Muốn pha chế nước vôi màu, trước hết phải pha chế nước vôi, sau đó pha màu vào nước vôi.
v    Pha thử màu vôi
Đong lượng nước vôi trắng độ vài lít.
-    Đong màu:
Dùng chén li đổ từ từ vào nước vôi. Khuấy kĩ cho màu tan đều trong nước vôi. Nếu màu khó tan,  pha trước màu với rượu hoặc cồn hay nước sôi.
-    Thử màu:
Thường quét nước vôi màu lên mảng tường nào đó, để khô sẽ hiện rõ màu.
v    Pha  màu vôi
Dựa vào tỉ lệ ghi lại lượng màu, nước vôi thực tế sau khi thử để pha chính thức lượng vôi quét hoặc phun.
Trình tự thao tác: cơ bản như cách pha thử màu, nhưng khác không phải quét thử để điều chỉnh độ đậm nhạt màu sắc.
3.    Pha chế mát tít
Mat tít là hỗn hợp gồm các vật liệu thành phần: bột mat tít, nước, dầu sơn và keo dùng để làm nhẵn bề mặt trát hoàn thiện trang trí hoặc làm nền cho sơn.
a.    Vật liệu pha chế
v    Bột mat tit
Dùng một trong các loại như bột tan, cacbonatcanxi, thạch cao… Đều ở dạng bột mịn, khô.
v    Nước pha chế mat tit
Thường dùng nước sạch nước dầu sơn, xăng hoặc nước keo. Các loại keo động, thực vật nhân tạo đều dùng được. Nhưng loại keo polime (loại nhựa tổng hợp) được dùng nhiều vì có khả năng bám dính cao.
b.    Tỉ lệ pha chế
v    Công thức 1
Bột tan + xăng + sơn dầu
Thành phần trọng lượng như sau: 5kg bột tan + 3.5kg sơn dầu + (0.10.25)lít xăng (xăng giúp cho mat tít nhanh khô và dễ thi công).
-    Nước sạch pha thêm để mat tít đảm bảo đủ độ nhão, dẻo thi công.
-    Mat tít này lâu khô, độ rắn kém không chịu ẩm ướt, dễ thi công, dùng bạ tường nơi khô ráo.
v    Công thức 2
Thạch cao + keo (keo tổng hợp) + bột phấn.
Thạch cao 1kg+ bột phấn 23kg lít nước keo (25)% (dùng keo nhân tạo hoặc keo tổng hợp).
Mat tít này nhanh khô, độ rắn tốt hơn, nhưng khó thi công thường dùng bạ tường tầng 1, tường phía ngoài hành lang….
v    Công thức 3
-    Nước keo (thực vật hoặc động vật) + bột  nhẹ (bột phấn ) + dầu sơn
Thành phần trọng lượng như sau:
-    Nước keo 10%: 1 lít + dầu sơn 0.25g + bột nhẹ 2.5kg.
-    Nước sạch thêm để pha mat tit đủ độ dẻo thi công.
-    Mát tit này bám dính tốt, dễ thi công, nhưng độ rắn kém, lâu khô. Thường dùng bạ tường trong nhà nơi khô ráo.
c.    Trình tự pha
v    Đối với loại mát tit tự pha theo công thức 1, 2, 3….
-    Đong vật liệu theo tỉ lệ trộn khô đều (nếu có từ 2 loại bột khô).
-    Đổ nước pha (dầu hoặc keo) theo tỉ lệ vào bột. Khuấy đảo đều cho nước và bột hoà lẫn hoàn toàn với nhau và trở nên dạng bột nhão dẻo.
v    Đối với loại mat tit pha sẵn
Đây là loại bột hỗn hợp khô, được pha chế tại công xưởng đóng gói thành bao. Mỗi bao thường có trọng lượng 10kg, 25kg, 40kg…
Mat tít này chỉ cần đổ nước sạch theo chỉ dẫn, khuấy đảo đều cho bột trở nên dẻo đảm bảo độ thi công.
4.    Bạ mát tít
a.    Yêu cầu kĩ thuật
Bề mặt sau khi bạ mat tit cần đảm bảo các yêu cầu kĩ  thuật sau
-    Phẳng, nhẵn, bóng, không rỗ, không bong dộp.
-    Bề dày các lớp bạ không nên quá 1mm.
-    Bề mặt mat tit không sơn phủ phải đều nhau.
b.    Dụng cụ
v    Bàn bạ
Hình dáng giống bàn xoa sắt, tay cầm bằng gỗ. Thân làm bằng miếng thép mỏng 0.150.2mm hình chữ nhật 10x20cm. Bàn bạ dùng bạ mat tit nơi có diện lớn, dễ thao tác và năng suất.
v    Dao bạ
Tay cầm làm bằng gỗ cứng, lưỡi thẳng, mỏng 0.10.15mm. Dao bạ lớn có thể thay bàn bạ để bạ mat tít bề mặt trát, thao tác cũng dễ và năng suất. Dao bạ nhỏ để xúc mat tít và bạ những chỗ hẹp.
v    Miếng bạ
Làm bằng thép mỏng chừng 0.10.15mm, cắt hình chữ nhật 10x15cm. Miếng bạ dùng để làm nhẵn bề mặt mat tit.
v    Miếng cao su: để phết mat tít các góc lõm.
c.    Chuẩn bị bề mặt
-    Các loại mặt trát đều có thể bạ mát tít, nhưng tốt hơn là mặt trát bằng vữa ximăng cát vàng. Phải chuẩn bị tốt bề mặt trát trước khi bạ mat tít.
-    Thực hiện các việc chuẩn bị bề mặt như (giống như bề mặt để quét, phun vôi).
-    Nếu bề mặt trát bằng cát hạt to: dùng giấy nhám đánh kĩ để rụng bớt hạt to bám trên bề mặt. Khi bạ mat tít những hạt cát to này dễ bị bật lên bám lẫn vào mát tít khó thao tác.
-    Quét trước đều một nước keo bằng chổi quét vôi hoặc con lăn, mục đích tăng độ bám dính của mát tít vào bề mặt.
d.    Trình tự thao tác
Thường bạ ba lần, bề mặt mat tit hoàn thiện mới đạt chất lượng tốt.
v    Bạ lần 1: Phủ kín và tạo phẳng bề mặt.
-    Bạ bằng bàn bạ
+    Dùng dao xúc mat tít đổ lên  mặt bàn bạ một lượng vừa phải.
+    Đưa bàn bạ áp nghiêng vào tường và kéo lên phía trên sao cho mat tít bám hết bề mặt. Sau đó dùng dùng cạnh của bàn bạ gạt đi gạt lại để mat tit bám kín đều
+    Bạ theo từng dải từ trên xuống, từ góc ra, chỗ lõm bù mat tít cho phẳng.
-    Bạ bằng dao bạ lớn
+    Cầm dao bằng mat tít ngón cái một bên và bốn ngón còn lại một bên đỡ lấy phía dưới của dao để thao tác.
+    Dùng dao xúc mat tit đổ lên dao lớn một lượng vừa phải.
+    Đưa dao áp nghiêng vào tường và kéo lên phía trên sao cho mat tit bám hết bề mặt. Sau đó dùng lưỡi dao gạt đi gạt lại để dàn mat tít bám kín đều.
v    Bạ lần 2: Tạo phẳng và làm nhẵn
-    Để mat tít lần trước khô mới bạ lần sau.
-    Phủ kín và tạo phẳng như lần một và làm nhẵn bóng. Thao tác làm nhẵn bóng có thể dùng bàn bạ và dao bạ hoặc miếng bạ.
Làm nhẵn bóng bằng bàn bạ
-    Khi mat tít còn ướt, dùng hai cạnh dài bàn bạ gạt đi gạt lại trên bề mặt, vừa gạt vừa miết nhẹ, đều tay. Thiếu bù thêm mat tít tiếp tục làm cho nhẵn. Dùng bàn bạ vuốt nhẹ lên bề mặt lần cuối
-    Làm nhẵn bóng bằng dao bạ hoặc miếng bạ.
-    Những góc lõm phải dùng miếng cao su bạ.
Dùng dao xúc mat tit, lượng vừa phải để phết vào một góc của miếng cao su, đặt miếng cao su tiếp giáp với góc định bạ và từ từ kéo dịch theo cạnh giao tuyến, vừa kéo vừa áp nhẹ cao su để mat tít bám hết vào góc.
v    Bạ lần 3: Hoàn thiện bề mặt mat tit
-    Kiểm tra trực tiếp bằng mắt phát hiện những vết xước, những chỗ lõm để bạ mát tít cho đều.
-    Đánh giấy nhám làm phẳng nhẵn những chỗ: lồi, giáp mối hoặc gợn lên do vết bạ để lại.
-    Sửa sang lại các cạnh, giao tuyến cho thẳng nét.
Bảng định mức vật liệu nhân công
 Đơn vị: 1m2
Mã hiệu    Công tác xây  lắp    Thành phần hao phí    Đơn  vị    Bạ bằng mát tít    
                Vào  tường    Vào cột, dầm, trần    
UB.1    Công tác  bạ mát  tít (bạ 3 lần) vào các kết cấu    - Vật liệu mat tít
- Giấy nhám
- Nhân công 4/7    kg
m2
công    0.4
0.02
0.3    0.4
0.02
0.36    

5.    Vật liệu sơn
a.    Thành phần sơn
v    Chất kết dính
-    Là thành phần chủ yếu của sơn nó xác định độ quánh của sơn
-    Các vật liệu được dùng để là chất kết dính cho một số loại sơn: cao su (trong sơn cao su), dầu (trong sơn dầu), chất kết dính vô cơ  (vôi sơn, sơn ximăng, sơn silicát..)
v    Chất tạo màu và độn
-    Là những chất vô cơ hoặc hữa cơ nghiền mịn không tan hoặc tan ít trong nước và tan cả trong dung môi hưũ cơ. Nó dùng để cải thiện tính chất và tăng tuổi thọ của sơn.
-    Một số chất dùng để tạo màu như bột oxyttitan (TiO2), Oxytcrôm (Cr2O3)..
-    Một số chất dùng làm chất độn trong sơn như  bột cao lanh, bột tan, bụi thạch anh…
v    Chất dung môi
-    Chất lỏng, dùng để pha vào sơn tạo cho sơn có nồng độ thi công.
-    Một số chất dùng làm chất độn trong sơn như: dầu thông, étxăng, spirit trắng, nước.
v    Chất làm khô
Dùng để làm tăng nhanh quá trình khô cứng cho sơn hoặc vecni. Chất làm khô thường được sử dụng 58% trong sơn. Trong sơn xây dựng hay dùng dung dịch muối chì-man gan của axit naphtalen làm chất khô.
v    Chất pha loãng
Dùng để pha loãng sơn đặc hoặc sơn cô cơ khác với dung môi, chất pha loãng luôn chứa một lượng cần thiết chất tạo màng để tạo màng sơn có chất lượng cao.
b.    Các loại sơn
Căn cứ vào các tính chất, thành phần và yêu cầu sử dụng để phân loại sơn. Một số loại sơn thường dùng như sơn dầu, sơn men, sơn pha trước..
v    Sơn dầu
Sơn dầu là hỗn hợp của chất tạo màu chất độn cùng vơi dầu thực vật, sơn dầu được sản xuất dưới hai dạng: đặc và loãng. Sơn đặc chứa 1215% còn sơn loãng chứa 3035% là dầu. Sơn dầu có hai loại: Sơn dầu thuần tuý và sơn dầu có nhựa.
Sơn dầu thuần tuý có màng sơn không bóng lắm kém bền vững. Dùng để sơn tường trong nhà, trần nhà, cửa gỗ trong nhà…
Sơn dầu có nhựa: màng sơn bóng, đẹp, bền vững. Sơn được dùng rộng rãi trong ngành xây dựng.
v    Sơn men
-    Chất tạo màu vô cơ hoặc hữu cơ với vecni tổng hợp hoặc vecni dầu.
-    Sơn kết dính nên mặt sơn dễ bong. Sơn men có độ bền ánh sáng và chống mài mòn tốt, mau khô.
-    Loại sơn này được dùng để sơn kim loại, gỗ, bêtông. Mặt vữa ở phía trong và phía ngoài nhà.

v    Sơn pha nước
Là hỗn hợp của chất kết dính vô cơ, bột màu với các chất phụ gia được hoà vào nước đến độ đặc thi công. Loại sơn này bền kiềm và bền ánh sáng. Theo dạng kết dính, sơn nước được chia ra: sơn vôi, sơn silicát, sơn ximăng…
-    Sơn vôi: gồm có vôi bột màu CloruaNatri, CloruaCanxi hoặc muối Canxi, axít. Sơn vôi dùng để sơn tường gạch, bêtông và vữa trát trong nhà.
-    Sơn silicat được chế tạo từ bột đá, phấn nghiền mịn, bột kẽm trắng và bột  màu với dung dịch tinh thể lỏng Kali hoặc Natri.
-    Sơn được chế tạo tại công xưởng và được chứa trong thùng.
-    Sơn silicat dùng để sơn ngoài nhà, nơi có dộ ẩm bình thường và độ ẩm cao gồm có bột màu và chất độn
-    Sơn silicat rất kinh tế và có tính tuổi thọ cao hơn sơn polyvinyl, sơn vôi và sơn
-    Sơn ximăng dùng để sơn tường ngoài nhà nơi có độ ẩm bình thường và độ ẩm cao.
c.    Pha màu sơn
Sơn được đóng kín trong các hộp to nhỏ khác nhau: 1kg, 10kg, 20kg, 25kg…
    Có rất nhiều màu sơn.
d.    Quét vôi
v    Tác dụng
 Các bộ phận công trình như tường, cột, trần… Sau khi trát xong thường được phủ lên một lớp vôi trắng hoặc màu là cho công trình sạch, đẹp.
Nước vôi phải pha sao cho không đặc quá hoặc loãng quá.
v    Phương pháp quét vôi
-    Khi đã làm xong các công việc về xây lắp, sau đó mới tiến hành quét vôi. Trước khi quét vôi phải cạo sạch bề mặt cần quét. Không được quét vôi lên bề mặt trát còn ướt.
-    Quét vôi bằng chổi đót.
-    Quét vôi phải được tiến hành thành nhiều lớp.
-    Lớp lót: bằng vữa vôi pha loãng, có thể quét một hoặc hai lượt. Quét lớp trước chờ khô rồi quét lớp tiếp theo, phải quét liên tục thành lớp mỏng.


Chú ý:
Quét tường thì đưa chổi theo chiều ngang và quét từ trên xuống; còn quét trần thì theo hướng song song với cửa.
Lớp mặt: khi lớp vữa lót đã khô quét lớp mặt. Ở lớp mặt phải được quét hai đến ba lượt. Lớp mặt phải được quét vuông góc với lớp lót.
Nếu quét vôi màu thì lớp lót bằng vôi trắng và lớp mặt bằng vôi màu.
e.    Quét sơn
v    Tác dụng
Sơn được quét lên bề mặt các bộ phận công trình để có tác dụng chống lại tác hại của thời tiết tăng độ bền cơ học của kết cấu và làm tăng vẻ đẹp của công trình.
Phân loại theo tác dụng
-    Sơn dùng cho gỗ
Để chống tác hại của thời tiết hoặc để trang trí cho các bộ phận công trình.
-    Sơn dùng cho thép
 Để chống gỉ, chống sự ăn mòn của nước mặn hoặc axit.
v    Yêu cầu
Không dộp, không bong, không nhăn đồng thời phải bóng bền và không phai màu.
v    Phương pháp quét vôi
-    Sau khi làm xong công tác chuẩn bị bề mặt sơn thì mới tiến hành quét sơn. Công tác chuẩn bị ấy là trước khi quét sơn, ta phải dọn sạch khu vực lân cận để bụi bẩn không bám vào lớp sơn còn ướt về sau.
-    Sơn phải quét làm thành nhiều lớp: lớp lót, lớp mặt, mỗi lớp được sơn 23 lượt
-    Sơn được pha với độ loãng thích hợp, trước khi quét phải khuấy sơn cho đều.
-    Nếu khối lượng sơn nhiều thì ta dùng máy phun để cho năng suất và chất lượng sơn sẽ được tăng lên rất nhiều.
-    Không nên sơn vào thời tiết lạnh quá hoặc nóng quá.



II.    LẮP ĐẶT THIẾT BỊ VỆ SINH
1.    Giới thiệu chung
Khu vệ sinh là khu vực lắp đặt các thiết bị dùng nước phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cần thiết của con người.
a.    Các loại thiết bị vệ sinh


Thiết bị vệ sinh hay còn gọi là các thiết bị thu nước bẩn sinh hoạt bao gồm: chậu rửa; chậu tắm; âu tiểu; bệ xí.

    Bệ xí xổm                Bệ xí xổm                      Bệ xí bệt

Ngày nay do nhu cầu phục vụ của con người ngày càng phát triển cùng với những tiến bộ của ngành gốm sứ nên các thiết bị vệ sinh cũng có nhiều loại, nhiều mẫu mã hình dáng, kiểu cách khác nhau...

Âu tiểu nam          Chậu rửa mặt                          Bồn tắm
b.    Nguyên lí cấu tạo
Thiết bị vệ sinh làm nhiệm vụ thu nước sinh hoạt do vậy tất cả các thiết bị (trừ âu xí) phải có lưới chắn và bảo vệ đề phòng rác chui vào làm tắc ống. Để đề phòng mùi hôi thối và hơi độc từ trong mạng lưới thoát hơi bay vào phòng các thiết bị phải có xi phông đặt ở dưới hoặc ngay trong thiết bị
c.    Yêu cầu kĩ thuật
-    Mặt trong các thiết bị phải trơn, nhẵn ít gãy góc để đảm bảo dễ dàng cho việc tẩy rửa cọ sạch.
-    Vật liệu chế tạo phải bền, không thấm nước, không bị ảnh hưởng của hoá chất. Vật liệu tốt nhất vẫn là sành sứ và các loại chất dẻo ngoài ra có thể là tôn phủ men sứ.
-    Tuổi thọ của các chi tiết trong cùng một thiết bị phải tương đương nhau, các chi tiết dễ hỏng phải ở vị trí thay đổi dễ dàng và nhanh chóng.
-    Thiết bị lắp đặt phải chắc chắn, tiện lợi cho việc sử dụng và đảm bảo thẩm mỹ.
d.    Xi phông
Xi phông hay còn gọi là khoá thủy lực có tác dụng ngăn ngừa mùi hôi thối và các hơi khí độc từ mạng lưới thoát nước thoát ra vào phòng.
v    Nguyên tắc cấu tạo
Xi phông là loại ống dẫn nước thải, trong quá trình vận chuyển nước thải lượng nước luôn luôn giữ lại làm nút kín chia không khí trong ống làm hai phần
Hơi độc ở phần ống (2) bị nút nước ngăn không thoát ra phần (1) để vào phòng. Theo hình vẽ cho ta biết nước chảy từ A đến B để có được nút nước so với độ cao H ta phải nâng độ cao D so với E một khoảng bằng H. bề dày của nút nước được tính bằng độ cao hữu ích (H) của cột nước có trong xi phông.
H = 5575mm.
H < 55mm áp lực khí trong ống dễ dàng phá hỏng nút.
H >75mm ảnh hưởng đến thời gian vận chuyển nước qua nút.
Các dạng xi phông thường gặp.
Hiện nay trên thị trường có nhiều loại xi phông
Theo vật liệu
Xi phông bằng gang, sành sứ, kim loại, cao  su...
Theo hình dáng
-    Xi phông uốn khúc.
Xi phông có dạng ống cong một đầu miệng bát, một đầu trơn. Thường dùng để lắp cho các bệ xí và đường ống dẫn nước thải.
-    Xi phông kiểm tra
Tương tự như  xi phông uốn khúc loại xi phông này được gắn thêm nắp kiểm tra C có thể tháo ra dễ dàng nhờ các bu lông. Khi có sự cố chỉ việc tháo bu lông mở nắp C để kiểm tra nguyên nhân gây tắc.
Xi phông kiểm tra thường dùng để lắp trên ống dẫn nước thải
-    Xi phông hình chai
nhìn bề ngoài xi phông có dạng hình chai (A gắn với B bằng ren) gắn với ống đứng C (bằng ren). khi xi phông có sự cố chỉ cần tháo bỏ B để tẩy rửa. Nước thải được vận chuyển từ ống I sang II qua III theo chiều mũi tên.
Xi phông hình chai thuờng dùng để lắp các chậu rửa, chậu giặt và âu tiểu.
Xi phông thu nước trên sàn.
Xi phông được đặt trên sàn thuận tiện cho việc kiểm tra và tẩy rửa. Nước qua luới chắn (1) vào xi phông (2) nối với đuờng ống thoát. Nếu xi phông có sự cố ta chỉ việc mở nút (4) để tẩy rửa.
-    Phễu thu nước
Phễu thu nước là dạng xi phông thu nước trên sàn được gắn vào trong sàn dùng để thu nước sản xuất.
Phễu được làm bằng gang bên ngoài được quét bằng một lớp nhựa mỏng.




2.    Xí
Hiện nay thường sử dụng hai loại: xí bệt và xí xổm.
Xí xổm:
a.    Cấu tạo
Cấu tạo chung: xí gồm có bệ xí, xi phông, cút 1300, ống dẫn phân, bể chứa (mặt bằng và mặt cắt xem hình vẽ).
Hệ thống bệ, xi phông có thể bị lộ ra ở mặt dưới của sàn nếu yêu cầu mĩ quan ở tầng dưới phải làm thêm trần để che đậy.
v    Bệ xí
Có hai loại: loại có xi phông và loại không có xi phông. Bệ được làm bằng gang sành, sứ, granitô bên trên có gờ nổi để chân và gờ bao xung quanh.
Bệ xí có xi phông gắn liền thường được sử dụng ở sàn tầng trệt hoặc lắp trực tiếp trên bể chứa khi đó không cần xây thêm trụ để đỡ xi phông.
-    Xi phông
Xi phông dùng cho bệ xí với bệ không có xi phông. Tuỳ theo vị trí và khoảng cách từ bệ đến ống đứng mà ta chọn xi phông kiểu cho phù hợp với những bệ gần lỗ xả hoặc đặt trực tiếp vào ống đứng chọn kiểu khác nhau.
-    Cút: là đoạn ống cong nối liền xi phông vào ống thoát nhằm thay đổi hướng của ống thoát. Vật liệu chế tạo cút: sành, sứ, chất dẻo…
-    Lắp đặt
Lắp đặt cút: luồn cút từ trên xuống qua lỗ chừa sẵn trên sàn. Điều chỉnh cho miệng dưới của cút quay theo hướng của ống dẫn ngang sau đó chèn cố định cút bằng vữa xi măng.
Chú ý: trước khi đặt cút phải kiểm tra lại vị trí của lỗ chừa sẵn trên sàn xem có phù hợp với xi phông hay chưa
-    Lắp xi phông
Miệng dưới của xi phông (đầu trơn) đặt lồng vào đều trên của miệng cút. Đổ nước vào xi phông. Điều chỉnh gối kê A, nhìn vào xi phông thấy mặt thoáng nuớc có tiết diện tròn là được. Chèn kín mối nối giữa các xi phông và cút bằng vữa xi măng, chèn chặt xi phông bằng bê tông gạch vỡ. Che đậy mặt xi phông bằng giấy hoặc bao tải để tránh đất đá rơi vào xi phông. Với những xi phông có lỗ thông tắc 2 ta phải nối thêm ống nhựa 3 có đường kính 2535mm sau đó mới đổ tiếp phần bê tông gạch vỡ tạo vát theo đáy bệ xí phần bê tông gạch vỡ đổ thấp hơn mặt khoảng 30mm.
-    Lắp bệ
Phết vữa vào xung quanh miệng trên của xi phông. Chú ý khi phết vữa không được để vữa rơi vào xi phông. Sau đó đặt lỗ xả của bệ lồng vào miệng trên của xi phông. Cạnh ngoài bệ tì lên tường chắn hoặc trực tiếp lên đan sàn (trường hợp lắp đặt bệ chìm). Điều chỉnh mặt bệ đúng vị trí, chèn vữa xi măng xung quanh bệ để giữ bệ ổn định. Che đậy mặt tránh vật liệu rơi xuống trong quá trình thi công tiếp theo.
Chú ý: với loại bệ có xi phông liền nên sử dụng lắp ở tầng một hoặc trực tiếp trên bể tự hoại khi đó ta chỉ việc đặt bệ vào vị trí đã chừa sẵn ở sàn. Đổ nước vào kiểm tra lại xi phông nếu thấy chưa đạt phải điều chỉnh mặt trên bệ cho xi phông đạt yêu cầu sau đó mới chèn bệ bằng vữa xi măng mác 100.
Xí bệt:
Thường làm bằng sứ, bên trong bố trí cả xi phông. Đa phần các bệ xí hiện nay đều có két nước đi kèm.
-    Cấu tạo
Xem hình vẽ cấu  tạo bệ xí, trong đó bệ xí là âu cốc (1) xung quanh miệng âu cốc có rãnh  phân phối nước (2). Nước ở trong két được phân phối qua lỗ cấp (4) vào rãnh (2) phân phối rửa âu cốc. Nước được tập trung lại ở xi phông (3) và xả vào đường ống thoát qua lỗ xả (5) có đường kính 85 được bố trí ở đế xí, để tiện nối vào ống nhánh thoát nuớc. Thường chế tạo âu xí có lỗ xả tạo góc thẳng đứng hoặc góc 300 để tiện cho người tiêu dùng. Kích thước của âu xí thường là 350x450mm chiều cao từ mặt nền đến mặt xí bệt là 390420cm. Trên mặt âu có vành nhựa để ngồi (7) trên là nắp đậy (8) hai chi tiết này được gắn với nhau bằng bản lề (9) được cố định vào âu cốc qua lỗ (10).
-    Vận hành
Khi sử dụng chỉ việc lật nắp đậy (8).
Cũng có thể lật vành nhựa (7) và sử dụng âu cốc như một âu tiểu.
-    Lắp đặt
Lắp cút 1350 (lắp đặt như xí xổm).
Lắp bệ theo chế tạo tại bản đế thường chừa sẵn 24 lỗ (rãnh) để liên kết âu cốc với mặt bằng sàn bằng 24 bu lông.
Kiểm tra điều chỉnh miệng cút vào miệng lỗ xả (5). Đặt gioăng hoặc gắn vữa liên kết vào miệng cút. Rải một lớp vữa xi măng mác 100 dày 1520. Trong phạm vi (phần đế tiếp xúc với sàn) đặt bệ lên trên vặn bu lông liên kết (bu lông được chôn sau hoặc cùng lúc với khi đổ bê tông sàn. Hiện nay người ta thường dùng vít nở để thay thế).
Cũng có thể đổ bê tông sàn tại vị trí đặt bệ chôn trước vào bê tông miếng gỗ hình nêm. Các bước tiến hành tương tự như trên. Với phương pháp này không cần chôn trước bu lông. Dựa vào gỗ có thể dễ dàng liên kết bệ xí với sàn bằng đinh vít.
v    Két nước
Xí bệt và xí xổm đều dùng két nước sạch để rửa, két có nhiều kiểu khác nhau. Két có thể đặt thấp hoặc cao.
Sử dụng nhiều hình thức: kéo, ấn, vặn, tự động xả nước…
-    Cấu tạo chung
Két nước có nhiều loại, mỗi loại có hình dáng, cấu tạo, cách vận hành khác nhau. Nhưng chúng có đặc điểm chung: vỏ thùng là bình chứa nước vật liệu là sành, sứ, sắt tráng men, thép không gỉ, gang, đồng, nhôm, chất dẻo… trên vỏ có lỗ xả ở đáy thùng đường kính 5565mm. lỗ bu lông liên kết 1216 (ở đáy, 2 bên hoặc phía sau). Lỗ lắp đường ống cấp đường kính 1525 ở đáy hoặc trên thành.
Theo vận hành có thể phân két nước thành những loại sau
Két (thùng) rửa đẩy tay.
-    Cấu tạo: ấn nhẹ vào đòn bẩy (1) chuyển động được chuyền qua dây treo (2) tới nâng van (3) lên và nước trong két luồn qua vào âu xí phao (4) hạ xuống nước cấp chảy vào két. Khi nước trong két dâng đến một giới hạn nhất định phao nổi tự động đóng van cấp.
-    Lắp đặt
Như ta đã biết két nước có nhều loại mỗi loại có hình dáng, cấu tạo và cách vận hành khác nhau. Thông thường các nhàsản xuất có hướng dẫn cách lắp ráp các chi tiết trong két căn cứ vào hướng dẫn của nhà sản xuất ta chỉ việc lắp ghép theo thứ tự đạt yêu cầu kĩ thuật
v    Vòi rửa
Vòi rửa có thể đặt hở hoặc dấu trong tường, nút điều khiển thường đặt cách sàn 0,8m để thuận tiện cho người sử dụng. Vòi rửa đòi hỏi áp lực  tự do 10m và đường kính ống dẫn  >35mm. Nếu bệ xí không có đường phân phối nước thì tại điểm nút phun ra phải làm giảm tiết diện để nước phun mạnh và đều.

III.    BỂ TỰ HOẠI
1.    Nguyên tắc
Bể tự hoại dùng để lắng, lọc và tiêu huỷ phần cặn bã của nước thải sinh hoạt
2.    Cấu tạo
Bể được đặt dưới sàn khu vệ sinh, hoặc đặt ngầm ở ngoài nhà.
Có hai loại bể tự hoại thông dụng:
-    Bể tự hoại kiểu lắng (gọi là bể bán tự hoại).
-    Bể tự hoại kiểu lọc (gọi là bể tự hoại).
Bể phải có độ cao thích hợp để nước trong bể chảy ra hệ  thống thoát nước chung.
Kết cấu của bể phải vững chắc, lớp trát phải kín và có khả năng chống lại axít nhẹ và không cho nước bẩn ngấm ra ngoài làm ô nhiễm môi trường và suy yếu nền móng làm giảm tuổi thọ của công trình.
a.    Bể tự hoại kiểu lắng
v    Cấu tạo
-    Bể tự hoại kiểu lắng được chia làm hai hoặc ba ngăn. Nếu chia làm hai ngăn thì ngăn I có dung tích bằng ¾ dung tích bể.
-    Nếu bể chia làm ba ngăn
-    Ngăn I bằng ½ thể tích bể. Mỗi ngăn còn lại có dung tích bằng ¼ dung tích bể
-    Ngăn I là ngăn chứa, các ngăn còn lại là ngăn lắng có ống dẫn nước vào bể; ống thoát hơi dẫn lên cao và lỗ thông hơi với ngăn lắng.
-    Ngăn lắng có lỗ thông hơi với ngăn chứa và có ống dẫn nước ra ngoài.
v    Vận hành
-    Nước phải đi vào ngăn chứa được lắng đọng một phần lớn, phần cặn nhỏ, nhẹ còn lại sẽ tiếp tục lắng đọng ở các ngăn lắng.
-    Quá trình lắng đọng diễn ra song song với quá trình lên men ở  lớp cặn bã ở dưới đáy bể.
-    Nhờ hoạt động của vi sinh vật yếm khí tạo ra các khí CH4, H2O, CO2 cùng với một lượng cặn bã có thể tích giảm đáng kể so với lượng cặn bã ban đầu.
-    Quá trình lên men còn tiêu diệt phần lớn các loại vi trùng của nước thải do tác dụng của các chất khí có tính axit.
-    Do các quá trình lắng đọng, phân huỷ, duyệt khẩn nước thải sau khi qua bể tự hoại sẽ trong sạch hơn nhiều so với nước thải ban đầu.
-    Để cho bể làm việc tốt khi thấy nước thải từ bể ra đã kém trong sạch hoặc theo định kỳ ba tháng hút hít cặn bã cùng với nước bẩn trong bể.
v    Nguyên tắc tính toán
Dung tích của bể tự hoại kiểu lắng theo công thức sau:   
W:  dung tích toàn phần của bể tích theo m3.
N :  số người sử dụng nước thải vào bể.
: hệ số phụ thuộc vào tiêu chuẩn dùng nước sạch.
Tiêu chuẩn dùng nước (lit/1ngày)    75    100    125    150    200    250    
Hệ số     0.135    0.16    0.185    0.21    0.26    0.31    
Bảng hệ số
-    Ưu điểm: kết cấu đơn giản, dễ thi công và giá thành thấp
-    Nhược điểm: không có khả năng giữ lại các cặn bẩn lơ lửng trong nước, những cặn bã này sẽ theo nước thải thoát ra ngoài.
b.    Bể tự hoại kiểu lọc
v    Cấu tạo

Bể tự hoại kiểu lọc
-    Bể tự hoại được chia làm ba ngăn: một ngăn để chứa, một ngăn để lắng, một ngăn để lọc.
Ngăn chứa và ngăn lắng có cấu tạo như bể tự hoại kiểu lắng.
Trong ngăn lọc, phía trên là máng phân phối nước tiếp đến các lớp vật liệu lọc dưới là tấm đan có lỗ thoát nước, dưới cùng là phần đáy bể để tập trung nước có ống thoát nước ra ngoài.
-    Vật liệu lọc thường có bốn lớp, mỗi lớp dày 1525mm các lớp kề liền trên xuống là: than củi, xỉ than, gạch vỡ 3x4cm, gạch vỡ 5x6cm.
v    Vận hành
Nước thải đưa vào ngăn chứa qua ngăn lắng sẽ xảy ra quá trình lắng đọng, lên men, phản ứng sau khi nước tương đối trong khi chạy vào máng của ngăn lọc.
-    Khi sang ngăn lọc nước thải tự phân phối đều trên bề mặt vật liệu lọc. Phần lớn các chất bẩn còn lại sẽ được giữ lại trong vật liệu lọc, nước thải ra ngoài sẽ trong sạch hơn so với nước thải kiểu ở trong bể kiểu lắng. Để làm việc tốt, khi thấy nước thải kém trong sạch phải hút hết cặn lắng cùng với nước thải trong bể.
-    Vật liệu lọc phải thay mới hay lấy ra rửa sạch.

3.    Nguyên tắc tính toán
-    Ngăn chứa và ngăn  lắng tính như bể tự hoại kiểu lắng.
-    Ngăn lọc thường lấy 0.11m3 cho một người sử dụng bể.
-    Chiều cao của ngăn lọc phải đảm bảo bốn lớp vật liệu lọc mỗi lớp dày 0.150.25m.
-    Ưu điểm: là nước thải ra từ bể trong sạch hơn từ bể kiểu lắng.
-    Nhược điểm: kết cấu phức tạp, thể tích lớn, giá thành cao, bảo quản và làm sạch khó khăn hơn loại bể lắng.
4.    Chú ý khi sử dụng bể tự hoại.
-    Ống thông hơi từ bể tự hoại phải dẫn lên cao để mùi hôi được khuếch tán nhanh vào khu vực không có người ở.
-    Không cho chảy vào bể các loại nước thải có chứa chất tiêu duyệt vi sinh vật yếm khí.
-    Các chất cặn bã có thể cho vào bể tự hoại phải là chất hữu cơ có khả năng phân rã trong nước.







 

Tiếp tục đọc
  2950 lần truy cập
2950 lần truy cập

Các cách giám sát chất lượng công trình

tu-van-giam-sat-1

Xi măng

  • Đặc biệt lưu ý thời hạn sử dụng không quá 3 tháng kể từ ngày xuất xưởng.
  • Xi măng sau khi được mua về, cần phải được bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát.Tuyệt đối không sử dụng xi măng đã vón cục trong xây dựng.

Gạch

- Chín đều, màu đỏ tươi, màu sắc đồng đều.

- Kích thước đồng nhất, không cong vênh.

- Khi gõ vào nhau có âm thanh vang, to.

Thép

  • Thép dùng trong xây dựng phải dùng thép đảm bảo chất lượng.
  • Không nên mua các loại thép thủ công, không có thương hiệu.
  • Tránh để thép bị gỉ sét, vì lớp gỉ sét sẽ ngăn không cho thép và bê tông (hoặc vữa) bám vào nhau, làm giảm độ bền của công trình.
  • Không chọn thép quá lớn để đúc các cấu kiện bê tông có kích thước nhỏ (đường kính cốt thép không nên vượt quá 1/10 kích thước bé nhất của cấu kiện).

Cát

  • Cát sạch, hạt đồng đều, không lẫn bùn đất.
  • Sàng cát trước khi sử dụng.
  • Không sử dụng cát nhiễm phèn để sử dụng.
  • Phân biệt cát đổ bê tông và cát tô trát.

Đá

  • Kích thước hạt đồng đều, không lẫn đá chết.
  • Không dùng đá có nhiều hạt có hình dáng dẹt, dài, mảnh.
  • Xịt nước rửa đá để loại bỏ tạp chất.

Nước

Phải là nước giếng sạch, nước trong, không bị nhiễm mặn, không bị nhiễm phèn, không lẫn phù sa.

Vữa tông

- Nên sử dụng bê tông mác M250 cho kết cấu chính.

- Sử dụng mác bê tông M200 cho các kết cấu còn lại.

Vữa xi măng

- Vữa xây tường M100 (1:4)

- Vữa tô M75 (1:5)

KẾT CẤU NGÔI NHÀ

Móng nhà

  • Đối với nền đất cứng, đất feralit miền núi, móng phải được chôn sâu tối thiểu là 0,5m trên nền đất tự nhiên;
  • Đối với vùng đồng bằng, móng được chôn sâu tối thiểu là 1m, kích thước móng cần đủ lớn để đảm bảo sức chịu tải cho cả ngôi nhà và áp lực do những chấn động thiên tai.
  • Đối với nền đất yếu: cần phải đào sâu, bỏ lớp đất yếu, hoặc gia cố bằng cọc bê tông.
  • Những vùng đất yếu thường xuyên ngập nước có thể dùng cọc tre, tràm gia cố với mật độ 25 cây/m2.

Tường nhà

  • Vữa xây M100 và trộn từng mẻ nhỏ (sử dụng trong 1-2 giờ).
  • Sử dụng đúng loại cát xây.
  • Mạch hồ thẳng đều, không trùng mạch đứng, viên xây phải ngang bằng, chiều dày mạch hồ từ 8mm đến 10mm.
  • Bảo dưỡng ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều tối.
  • Tường 10cm không được vượt quá 3m.
  • Giằng tường đối với nhà cấp IV tối thiểu phải đạt: cao 10 phân, 2f8, bê tông Mác 200.
  • Tường cần phải tô vữa M75 để tăng khả năng chịu lực, chống thấm.

Mái nhà

  • Xà gồ (đòn tay): neo vào tường gạch ít nhất là 80cm hoặc neo vào giằng đỉnh tường.
  • Mái nhà tôn: được đóng đinh vào xà gồ, đóng 1 sống, bỏ một sống; đòn tay kế tiếp: đóng lệch, tạo hình nanh sấu.
  • Khi lợp xong, cần bẻ mí tôn đóng vào tường để gió lớn không làm rách mái tôn; dùng thép V3 chặn mái, tránh tôn bị xé rách tại vị trí lỗ đinh khi có gió lớn.
  • Nhà mái ngói: xây bờ chảy, bờ nóc cố định các viên ngói.
Tiếp tục đọc
  1111 lần truy cập
1111 lần truy cập

Các giải pháp giảm giá thành xây dựng

090605baoxaydung_congtrinhxanhngay164_1_38672

Lựa chọn thợ xây dựng

  • Nên hỏi thăm những người thân quen đã từng xây/sửa nhà để được giới thiệu những nhóm Thợ tin cậy, uy tín.
  • Sau khi đã có 1 danh sách những nhóm thợ “tin cậy & uy tín”, bạn nên tìm hiểu giá cả từng nhóm để so sánh nhằm chọn được giá tốt.

Lựa chọn nơi cung cấp vật liệu

  • Liệt kê những cửa hàng bán vật liệu xây dựng gần nơi gia đình bạn đang sinh sống.
  • Tìm hiểu tất cả các cửa hàng này để so sánh nhằm chọn được giá tốt.
  • Hỏi thăm những người thân quen đã/đang xây/sửa nhà để được giới thiệu cửa hàng có uy tín (giao hàng nhanh, gọn, đảm bảo chất lượng & số lượng...)

Quản các chi phí phát sinh

  • Mô tả thật kỹ yêu cầu của bạn khi thỏa thuận giá cả với thợ/thầu xây dựng để giảm thiểu đến mức thấp nhất các chi phí phát sinh.
  • Để chắc chắn rằng bạn đã không chi trả “vượt mức chỉ tiêu”, cần ghi chép tất cả các khoản chi tiêu và thường xuyên đối chiếu với bảng dự trù kinh phí.
  • Nếu có khoản nào đó bạn bắt buộc phải chi nhiều hơn dự kiến, thì cần nghĩ cách tiết giảm một số khoản khác để bù lại.

Tận dụng vật liệu /sẵn

  • Sẽ tiết kiệm được số tiền đáng kể khi tận dụng lại những vật liệu từ ngôi nhà cũ.
  • Ngoài ra, bạn cũng có thể dặn những người thợ hồ trong xóm để họ mua giúp bạn những vật liệu tận dụng này (gạch lót sàn, cửa sổ, cửa đi…) hoặc tìm mua chúng tại vựa ve chai/cửa hàng bán vật liệu xây dựng cũ với giá chỉ bằng 1/2 hoặc 1/3 so với mua mới sản phẩm cùng loại.
  • Nếu gia đình bạn ở nông thôn, bạn có thể trồng cây (tre, xoan, keo lá tràm, muồng đen...) bao quanh nhà/vườn, để vừa làm hàng rào, vừa có thể thu hoạch gỗ để làm nhà.
Tiếp tục đọc
  1011 lần truy cập
1011 lần truy cập

XÂY NHÀ ỨNG PHÓ THIÊN TAI

bao_so_10_zin_20190113-155410_1

— TẠI SAO LẠI CÓ QUÁ NHIỀU NGÔI NHÀ BỊ HƯ HẠI SAU THIÊN TAI NHƯ VẬY?

Hàng năm đều có những cơn bão có sức tàn phá rất nặng nề. Nhiều nhà xây dựng trong thời gian quá nhanh, xây cẩu thả với chất lượng nguyên vật liệu và kỹ thuật  không được đảm bảo;

Nhiều nhà đã lợp ngói bằng chất liệu không bền vững. Và kết cấu bên dưới của nhà không được liên kết đúng với mái nhà;

Nhiều nhà đã xây dựng không tuân theo các tiêu chuẩn bắt buộc về  của vùng đẻ đối phó bão. Trong quá trình xây dựng nhà không được hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền nên dẫn đến kết quả xây dựng kém và làm tăng thêm tính trạng dễ bị tổn thương

Sự kiên cố của ngôi nhà được quyết định do mỗi yếu tố tạo nên cấu trúc của ngôi nhà đó. Cấu trúc nhà mở và lõng lẻo sẽ tạo điều kiện cho gió lồng vào;

Vd: Xà gồ và thanh ngang được liên kết với nhau bằng đinh vít rất dễ bị tốc mái. Liên kết giữa các bộ phận kết cấu của ngôi nhà không hợp lý, ngôi nhà sẽ trở nên không an toàn trước gió bão.

Vì vậy, chất lượng và kỹ thuật xây dựng nhà ảnh hưởng đến sức chịu đựng bão của các ngôi nhà.

—NGUYÊN NHÂN VÀ GiẢI PHÁP KỸ THUẬT

1) PHẦN MÓNG

Nhìn chung với nhà 1-2 tầng thì gió bão không ảnh hưởng lớn đến phần móng. Tuy nhiên nếu móng không đủ khả năng chịu tải trọng phần trên và thiếu hệ giằng thì dễ dẫn đến phá hoại kết cấu nhà do lún móng gây nứt vỡ kết cấu làm giảm khả năng chịu tác động gió bão của công trình

Giải pháp:

Diện tích đáy móng và chiều sâu chôn móng phải phù hợp thêo từng loại địa hình và địa chất

Khoảng cách tối đa giữa hai trụ phải đạt 3,5m tối thiểu;

Độ sâu chôn móng để đảm bảo móng ngàm chặt vào nền đất, nên chọn lớn hơn kích thước đáy móng

2) KẾT CẤU

—Nguyên nhân:

—Sự phá hoại phần thân công trình làm sụp đổ một phần hoặc toàn bộ công trình. Điều này xảy ra do áp lực gió tác động vào bề mặt công trình lớn hơn khả năng chịu lực của hệ kết cấu chính. Việc yếu kém của hệ kết cấu chịu lực là do nhiều yếu tố:

—Sử dụng vật liệu xây dựng kém phẩm chất, không đúng quy cách như: viên gạch có kích thước nhỏ; xi măng kém phẩm chất; cát đúc, cát xây kém chất lượng, nhiều tạp chất;

—Liên kết giữa các bộ phận kết cấu không đảm bảo như: liên kết giữa tường với khung bêtông cốt thép, liên kết giữa tường ngang với tường dọc;

Giải pháp:

Sử dụng vật liệu đúng quy cách,

Nhằm đảm bảo yêu cầu chịu lực và phù hợp điều kiện kinh tế của đa số người có thu nhập thấp, có thể sử dụng tường xây gạch nằm (đối với gạch 6 lỗ ), kết hợp với giải pháp bố trí tường ngang và dọc hợp đồng thời có bố trí hệ giằng thích hợp.  

Bảo đảm liên kết bền vững giữa cột với tường, khoảng cách giữa các thanh thép neo tường vào cột < 500mm, kết hợp bố trí giằng tường.

Nằm trong những vùng ngập lụt, tầng lững được sử dụng để chống bão : là nơi an toàn hơn trong trường hợp có lớn và dùng làm kho tạm thời. Tầng lững cũng bảo vệ tác động ngang của bão lớn đối với ngôi nhà.

—Phần cửa (cửa chính cửa sổ)

Nguyên nhân:

Cửa chính và cửa sổ có vai trò bảo vệ quan trọng trước tác động của gió bão. Khi cửa chính và cửa sổ không vững chắc, bị phá hoại thì gió sẽ lồng vào bên trong nhà và bốc dỡ dễ dàng phần mái và tường

—Giải pháp

Làm khung cửa chính và cửa sổ chắc chắn. Không nên làm cửa quá lớn, không để mảng kính lớn. Việc đóng khoá cửa phải bảo đảm không để bị gió giật ra

3) Bóc dỡ toàn bộ mái:

Nguyên nhân :

xảy ra khi liên kết của hệ sườn mái với kết cấu chịu lực chính của ngôi nhà không thắng nổi áp lực gió. Khi đó tấm mái và hệ sườn mái cùng bị bóc dỡ. Trường hợp này thường chỉ xảy ra với mái tôn. Có khả năng dẫn đến sụp đổ toàn bộ ngôi nhà

Giải pháp:

—Giải quyết tốt mối liên kết giữa gồ với kết cấu chịu lực chính của công trình:

—Với kết cấu khung chịu lực: khi thi công khung bố trí các chi tiết liên kết gồ ( thép liên kết, móc liên kết, con bọ...

—Với tường gạch: nên bố trí giằng đỉnh tường bằng tông cốt thép, tạo thành điểm tựa để liên kết gồ vào kết cấu chính của ngôi nhà bằng các thanh thép liên kết.

4) Bóc dỡ tấm lợp

Nguyên nhân :

Xảy ra khi áp lực âm của gió lớn hơn lực giữ tấm mái do các liên kết của tấm mái với hệ sườn mái (xà gồ, cầu phong, li ) trong khi lực liên kết giữa hệ sườn mái với phần kết cấu chịu lực chính của ngôi nhà có thể thắng được áp lực của gió. Trong trường hợp này, chỉ có tấm mái bị phá huỷ. Lực gió sẽ tách các tấm mái khỏi hệ kết cấu

Tiếp tục đọc
  2089 lần truy cập
2089 lần truy cập

Màu Sắc Phối Màu Sắc Trong Thiết Kế

Màu Sắc Phối Màu Sắc Trong Thiết Kế
1. Khái niệm về màu sắc: Theo KTS Hà Thanh thì màu sắc không là cái gì cả mà màu sắc là do cảm nhận của mỗi đối tượng qua sự phản chiếu của các bước sóng và các hạt. Con người mỗi người đều có phổ quang ghi nhận các bước sóng và phần đa phổ quang của mọi người gần giống nhau nên nhìn sự vật có các màu sắc tương đồng nhau. Tuy nhiên có nhiều trường hợp có sự chênh trong việc ghi nhận và phán đoán màu sắc có thể màu đậm hơn hoặc nhạt hơn. Có trường hợp mù màu tức không phân biệt được màu sắc như người bình thường. Có những loài vật nhìn được những tia cực tím và tia hồng ngoại còn con người thì không. Nên màu sắc không tồn tại. - Trong khái niệm về màu sắc ta làm quen với 2 khái niệm: VẬT PHÁT SÁNG VẬT PHẢN SÁNG Cơ bản ta nhìn thấy được màu sắc là do sự vật phát ra anh sáng màu đó hoặc một vật phản xạ một màu sắc còn các màu sắc còn lại bị nó TRIỆT TIÊU nên ta không nhìn thấy. Ví dụ bóng đèn phát sáng màu vàng ta ghi nhận đó là đèn màu vàng. Còn khi nhìn thấy cái áo màu đỏ là chứng tỏ cái áo đó triệt tiêu các màu còn lại và chỉ phản xạ lại màu đỏ nên ta chỉ nhìn thấy màu đỏ. Khi phối màu người ta thường lấy ánh sáng mặt trời làm chuẩn để phối màu (ánh sáng nhiệt thạch mặt trời không phải là ánh sáng ta nhìn trong bầu khí quyển hàng ngày - hay gần hơn là ánh sáng bóng sợi đốt) - Phối màu tùy thuộc các yếu tố: + Độ bóng + Độ mờ + Vật liệu phối +Cảm xúc muốn đạt được của phối màu (Cái này thực sự quan trọng và được xem là yếu tố quan trọng nhất - Bảng phối màu thiết kế của bạn có ăn tiền hay không là phụ thuộc yếu tố này) Kiểu như Spa cần sự thư giản, thoải mái mà bạn quất tông màu nóng vào thì trớt quớt. Kiểu như đi dự tiệc vào một sảnh nhà hàng cao cấp bạn thấy tông màu chủ đạo là màu trắng và vàng đơn giản thôi vì màu sắc được tôn lên từ chính những bộ trang phục, phụ kiện mà những thượng khách mang đến. Một phòng khách sẽ có màu đèn khác với phòng ngủ, nhà thiết kế phải biết về nhịp độ sinh học để lo cho sức khỏe của chủ nhà thì mới thực là nhà thiết kế có tâm và có tài. Tâm và tài của bạn càng lớn thì tiền chủ nhà trả cho bạn càng cao. Cảm xúc quyết định rất nhiều đến việc đánh giá và quyết định phương án màu cũng như việc chủ đầu tư sẽ nhanh chóng duyệt bảng phối màu thiết kế nhà của bạn nếu không gian họp bàn thật sự thoải mái và bên cạnh có thêm cô chân dài thật đẹp ăn mặc vô cùng gợi cảm. "Phối màu là đi tìm khung cảnh cảm xúc và tạo nên bảng màu phối" Phối màu cần thiết phải biết được người sử dụng bảng phối màu thiết kế đó là mạng cú vọ hay mạng chim họa mi. Tức là người có thói quen làm việc ban ngày hay người có thói quen làm việc bạn đêm. Một nhà thiết kế phải lo được cho gia chủ một không gian phù hợp với thới quen và sở thích của gia chủ thì mới đúng là nhà thiết kế thực thụ. 2. Phối màu: Ta làm quen với 2 khái niệm - Sắc độ (Tức là độ sáng tối của màu sắc) Bảng màu chúng ta thường thấy là mặt cắt của một khối cầu sắc độ. Có nhiều bảng phối màu theo các mặt cắt khác nhau. - Cường độ (Chính là màu của màu sắc hay hiểu đó là độ chói) Thiết kế hay người làm nội thất cần đặc biệt chú ý đến cường độ của màu sắc vì màu sắc quá chói sẽ gây cảm giác khó chịu như khi ta nghe một bản nhạc có âm độ pass hoặc treble quá lớn. Một bản phối màu cũng giống như một bản nhạc. Ta có thể cảm nhận một không gian màu sắc sống động như khi nghe một bản nhạc và từ nghe một bản nhạc ta có thể cảm nhận ra màu sắc của cuộc sống. - Kiểu phối + Phối màu tương phản: Là chọn các cặp màu tương phản để phối, trong các cặp màu tương phản không chỉ giới hạn chính xác ở các cặp màu ví dụ như ĐỎ - Xanh lục mà chúng ta còn có thể sử dụng các cặp màu bổ trợ theo dạng tam giác thuận, hình tứ giác - không dùng tông màu chính mà thay thế màu tổ hợp để ra màu chính (Cái này hơi chuyên ngành nên mình không giải thích ở đây)
Tùy mục đích chuyển tải mà có bảng phối màu thiết kế cho phù hợp ví dụ: Màu đỏ truyền đạt tính quyền lực. Màu xanh truyền tải sự sống, niềm hi vọng Màu tím - vàng thể hiện điều tâm linh, sâu kín. + Phối màu tông xẹc tông: Là kiểu phối màu có tông gần giống nhau. 3. Chọn màu: - Chọn màu chủ đạo: Là màu tạo cảm xúc chính - Chọn màu nhấn: Là màu đẩy cảm xúc - Màu trung tính là màu không phá 2 màu kia khi phối bên cạnh.
Tiếp tục đọc
  1071 lần truy cập
1071 lần truy cập

HIỆN TƯỢNG NỨT BÊ TÔNG TRONG CÁC CÔNG TRÌNH MỚI XÂY DỰNG

HIỆN TƯỢNG NỨT BÊ TÔNG  TRONG CÁC CÔNG TRÌNH MỚI XÂY DỰNG

TÓM TẮT: Bài báo trình bày nguyên nhân nứt trong các công trình xây dựng bằng bê tông cốt thép (BTCT) và bê tông cốt thép dự ứng lực (BTCT DUL). Các phương pháp xác định và theo dõi nứt trong các công trình trên và phương pháp xử lý. Trong báo cáo cũng giới thiệu hiện tượng nứt ở một số công trình GTVT và các biện pháp khắc phục.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay nhiều công trình xây dựng bằng BTCT xảy ra hiện tượng nứt bê tông trước khi đưa vào khai thác. Những vết nứt này xảy ra do nhiều nguyên nhân nhưng vấn đề là chúng ta có chấp nhận sự tồn tại các vết nứt này không? và có khắc phục được hiện tượng nứt bê tông trước khi đưa vào khai thác hay không? Theo định nghĩa về hư hỏng trong bệnh học công trình [1] “Hư hỏng là sự khác nhau không chấp nhận được giữa sự hy vọng sẽ thực hiện và những sự thực hiện đã qua sát được” thì hiện tượng nứt bê tông trong các công trình mới xây dựng cần thiết phải được khắc phục.

2. NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY NỨT BÊ TÔNG TRONG CÁC CÔNG TRÌNH MỚI XÂY DỰNG

Trong nhiều cuộc hội thảo gần đây có nêu ra nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng nứt trong các kết cấu bê tông cốt thép. Trong quá trình kiểm tra, theo dõi sự phát triển các vết nứt tại một số cầu, hầm, cảng mới xây dựng ở nước ta chúng tôi nhận thấy nứt ở kết cấu BTCT mới xây dựng do một số nguyên nhân chủ yếu sau.
* Trước khi bê tông đông cứng
- Nứt do dịch chuyển: bao gồm dịch chuyển của ván khuôn (có thể do tháo ván khuôn sớm) và các dịch chuyển do những chấn động trên công trường gây ra.
- Nứt do co ngót dẻo, độ sụt của bê tông lớn. Hiện tượng nứt này do một số nguyên nhân sau: bảo dưỡng kém, trời hanh bê tông khô nhanh và cốt thép gần bề mặt bê tông. Vết nứt này thường xuất hiện trong khoảng thời gian từ 30 phút đến 3 giờ sau khi đổ bê tông.
* Sau khi bê tông đông cứng:
- Nứt do nguyên nhân lý học: Những hiện tượng nứt này thường xảy ra do sự co ngót của các phối liệu, co ngót khi khô. Bề mặt bê tông bị rạn do lượng xi măng nhiều, bảo dưỡng kém. Loại vết nứt này thường xuất hiện từ 1 đến 7 ngày sau khi đổ bê tông.
- Nứt do nguyên nhân nhiệt: Do có sự chênh lệch nhiệt độ bên ngoài và bên trong kết cấu. Đối với kết cấu bản, tường dày không khống chế được nhiệt độ bên trong và bên ngoài tạo ra gradien nhiệt quá giới hạn (thường xảy ra trong khoảng thời gian từ 1 đến 3 ngày).
- Nứt do nguyên nhân kết cấu: Do kết cấu chịu quá tải đột ngột, do thiết kế không đủ tiết diện. Có trường hợp còn bị nứt do việc triển khai các bản vẽ thi công không phù hợp với thiết kế.
Để minh hoạ những nguyên nhân trên có thể đưa ra một số ví dụ sau:
2.1. Hầm D
* Mô tả khuyết tật: Xuất hiện các vết nứt tại một số khoang của hầm, độ rộng vết nứt lớn nhất 0,4mm, khoang số 9 có số vết nứt nhiều nhất 15 vết nứt với tổng số chiều dài là 36,980m. Nước rỉ xuống lòng hầm từ các khe thi công và các vết nứt. Các vết nứt có đặc điểm như sau:
- Xuất hiện không theo quy luật: Có vết nứt song song với trục dọc hầm, có vết nứt vuông góc với trục dọc hầm, có vết nứt xiên góc với trục dọc hầm.
- Các vết nứt xuất hiện ở cả tường phải, tường trái và khu vực vòm.
- Đa số vết nứt có độ rộng vết nứt xấp xỉ 0,2mm, một số ít có độ rộng xấp xỉ 0,4mm.
* Qua đo đạc, tính toán và tìm hiểu các tài liệu thi công, dự đoán nguyên nhân gây nứt bê tông như sau:
- Tháo ván khuôn sớm khi bê tông chưa đủ cường độ, những va chạm, chấn động lúc tháo ván khuôn cũ và lắp ván khuôn mới gây nứt trong các dốt của hầm.
- Trong quá trình thi công xong bê tông không được bảo dưỡng, lượng nước mất nhanh, phục thuộc lớn vào thời tiết... gây co ngót dẫn đến nứt.
- Hiện tượng rỉ nước theo vết nứt và các khe nối giữa các đốt do nguyên nhân khi thiết kế không thiết kế lớp phòng nước.
2.2. Cầu K.C.
Cầu bản mố nhẹ gồm 2 nhịp, chiều dài kết cấu nhịp 6,58m x 2 = 13,16m, tường thân mố cao 7,5m, móng mố được tăng cường bằng cọc BTCT M300#, thân mố dày 0,95m bằng BT M150#
Mô tả khuyết tật: Vết nứt ngang cách đỉnh mố khoảng 2,5m, độ rộng 1,8m, sâu 75cm, dài suốt bề ngang tường mố (6,5m). Tường mố bị vồng 5cm. Tường cánh có xu thế đẩy ra phía lòng sông và phía vuông góc với cầu. Tường cánh phía hạ lưu bị đổ, các tường cánh còn lại đều xuất hiện các vết nứt ngang độ rộng 2mm.
* Dự đoán nguyên nhân:
Nguyên nhân gây ra nứt do tường mố và tường cánh không đủ khả năng chịu lực ngang do áp lực đất và do hoạt tải sau mố. Đã tiến hành kiểm toán mặt cắt trên 1m dài tại mặt cắt giữa chiều cao của tường thân mố. Do tường thân mố kết cấu bê tông toàn khối nên không cho phép xuất hiện ứng suất kéo trên tiết diện nguyên nhưng ở tường thân mố đã xuất hiện ứng suất kéo gây nứt.
2.3. Cảng V
Kết cấu bến cảng gồm hệ dầm trực giao đỡ hệ bản BTCT. Tiết diện ngang của một dầm như sau:

 Hình 1. Tiết diện ngang của dầm trực giao đỡ bản BTCT

Trong quá trình thi công tại giai đoạn chuyển tiếp khi các tấm bản mặt cầu chưa được đặt lên xuất hiện các vết nứt từ mặt trên của dầm (tại thời điểm đó nằm ở cao độ đáy của các tấm bản đúc sẵn sau này sẽ được đặt lên). Các vết nứt kéo dài từ bề mặt và ước tính kéo dài 80 cm xuống các cạnh.

 

Hình 2. Vết nứt xuất hiện trên bề mặt dầm

Nguyên nhân gây ra nứt do việc triển khai bản vẽ thi công không đúng nên trong quá trình thi công tại giai đoạn chuyển tiếp không có thanh thép nào trên mặt dầm ở vị trí gối vì tại đó mô men đổi chiều thớ trên chịu kéo.
2.4. Một số cầu dầm hộp
Trong giai đoạn hiện nay chúng ta áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới xây dựng một số cầu dầm hộp. Trong giai đoạn đầu ở các cầu mới xây dựng đã xuất hiện các vết nứt ở bản trần trong hộp. Ở những cầu gần đây các vết nứt này hầu như không có. Các vết nứt này đa số là các vết nứt dọc theo cầu ở khu vực giữa trần, và khu vực vút của bản trần, độ rộng vết nứt 0,2mm. Do có những cải tiến trong thiết kế và thi công số lượng vết nứt trong lòng hộp giảm dần và ở những cầu mới xây dựng các vết nứt này hầu như không có. Từ đó có thể thấy rằng hoàn toàn có thể xây dựng được những công trình cầu hộp BTCT DUL mà không tồn tại bất cứ khuyết tật nào.

Bảng 1. Thống kê tình trạng một số cầu hộp BTCT DUL mới xây dựng
trong những năm gần đây.
Tên cầu Công nghệ thi công Năm kiểm tra Khẩu độ nhịp lớn nhất (m) Bề rộng bản trần (m) Nứt ở bản trần trong hộp Độ rộng vết nứt lớn nhất (mm)
1. P Đúc hẫng 5/1998 120 5 nứt nhiều 3.0
2. G Đúc hẫng 12/1998 120 5.8 nứt ít 0.2
3. H Đúc hẫng 4/1999 42 4.8 không nứt
4. T Đúc hẫng 5/2000 102 5 nứt ít 0.2
5. Q Đúc đẩy 10/2000 102 5 nứt ít 0.1
6. L Đúc hẫng 10/2000 90 5.1 nứt ít 0.1
7. HH Đúc hẫng 2/2001 130 6.06 Không nứt
8. X Đúc đẩy 8/2001 42 4 không nứt
9. TT Đúc hẫng 9/2001 63 6.6 không nứt

3. SỬA CHỮA CÁC VẾT NỨT

Trong bất kể trường hợp nào, chủ đầu tư không muốn nhận một công trình ngay từ ban đầu đã có những vết nứt. Để sửa chữa các vết nứt ở công trình BTCT mới xây dựng cần thiết phải qua các bước sau đây:
* Xác định nguyên nhân gây nứt.
* Theo dõi sự phát triển của vết nứt.
* Sửa chữa vết nứt
Để theo dõi sự phát triển của vết nứt, sử dụng thiết bị Avongard (Tell-Tale “Plus” No 9022157.3) có hình vẽ dưới đây:

 

Hình 3. Thiết bị theo dõi vết nứt

Việc theo dõi vết nứt để khẳng định rằng vết nứt không phải do nguyên nhân lực và quyết định phương thức sửa chữa. Một số ví dụ về sửa chữa vết nứt đã được thực hiện như sau.
3.1. Sửa chữa công trình trình bày trong phần 2.1
Sau khi thiết kế bổ sung hệ thống thoát nước tại các khe thi công mới tiến hành xử lý vết nứt ở bề mặt vỏ hầm:
- Đục bỏ bê tông dọc theo chiều dài vết nứt dạng hình chữ V (rộng 10cm, sâu 10cm)
- Vệ sinh bề mặt vết đục, tiến hành trát lớp Sika 102 dầy 3cm vào vết đục.
- Ghép ván khuôn dọc theo vết nứt.
- Bơm vữa CM-F vào theo các cửa sổ đặt sẵn trên ván khuôn.
- Tháo ván khuôn quét phủ lớp keo Sika 732 lên bề mặt (2-3mm).
- Sau khi khô sơn bề mặt 2 nước sơn theo màu sơn của hầm.
3.2. Sửa chữa công trình trình bày trong phần phụ lục 2.2.
Vết nứt do nguyên nhân lực sẽ dẫn đến phá hủy công trình, cần thiết phải dỡ tải sau đó tiến hành sửa chữa theo một trong hai cách:
- Phá bỏ thiết kế lại.
- Bổ sung cốt thép ở phần chịu kéo và sửa đổi lại kết cấu mố thành dạng mố chữ U.
3.3. Sửa chữa công trình trình bày trong phần phụ lục 2.3.
Vết nứt xuất hiện trong quá trình thi công nên cần thiết phải:
- Bổ sung thêm cốt thép thi công.
- Hoặc triển khai lại phương án thi công.
Sau khi thi công xong sẽ phun sâu keo êpôxy vào các vết nứt bằng bơm áp lực cao.

4. KẾT LUẬN

Sự xuất hiện vết nứt trên công trình BTCT là một biểu hiện của bệnh lý công trình cần sớm tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục.

 

Tiếp tục đọc
  1923 lần truy cập
1923 lần truy cập